CỦA BÁU VÔ GIÁ

NGỌC XÁ LỢI PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Những thứ quí báu trên thế gian thì rất nhiều như kim cương, vàng, bạc, ngọc ngà…. Trong nhà Phật thường nói đến thất bảo là kim, ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não (Kinh A Di Đà). Thông thường những vật gọi là báu trên đời, tuy nói quí nhưng không thật quý. Vì các thứ này chỉ để cho người ta trang sức hoặc cất trong nhà và biểu thị cho sự giàu sang của chủ nhân mà chưa chắc đã đem lại hạnh phúc thật sự cho con người, đôi khi còn đem lại tai hoạ là đằng khác. Vì thế cũng chưa thật sự gọi là quý báu trong đời.

Theo Phật dạy thì quý giá nhất trên đời chỉ có ba thứ mà được mệnh danh là Tam Bảo. Vậy Tam Bảo là những thứ chi mà gọi là quí nhất?

Như ta đã biết Tam có nghĩa là ba, còn Bảo là quý báu, tôn quý, Bảo ở đây không chỉ là quý báu tôn kính thông thường, mà là Tôn Quý – Tôn Kính – Kính Quý.

Tam Bảo theo chữ Phạn Triratha hoặc Pali là Tiratana mà tiếng Pháp dịch là Trois Trésors và tiếng Anh dịch là Three Gems gồm có :

-         Phật Bảo: Buddha –ratna

-         Pháp Bảo: Dharma –ratna

-         Tăng Bảo: Sangha –ratna

Vậy Phật Bảo có nghĩa là gì? Phật Bảo nói tắt là Phật tiếng Phạn gọi là Buddha ratna, người Trung Hoa dịch là giác giả là người, là bậc, là vị, là đấng đã giác ngộ thấu suốt

cái chân lý về nhân sinh vũ trụ vạn vật. Vị ấy có thể làm thầy loài người loài trời, nói tóm lại là sở dĩ Phật được mệnh danh là Đấng quý báu nhất trên đời vì Phật có đủ các tính chất như :

-         Sáng suốt tuyệt vời.

-         Từ bi, bình đẳng vô phân biệt.

-         Hỷ xã, bao dung không biên giới.

Làm cho mọi người an vui giải thoát trọn vẹn. Nhất là ai có duyên được gần Phật, thấy Phật dù đó chỉ là Phật bằng đồng, đá gỗ, giấy, đất … mà hoặc đứng, quỳ, ngồi chấp tay ngay thẳng trước mọi hình tượng Phật trong 5 phút thôi thì những người đó sẽ được phước đức, trí tuệ vô lượng vô biên. Không những thế mà sớm muộn gì cũng được thành Phật; nói chi đến những thành tựu khác trong thế gian. Vì thế cho nên được mệnh danh là thế gian Đệ Nhất Bảo.

Pháp Bảo là gì? tiếng Phạn là Dharma- ratna hay nói gọn là tiếng Pháp, Trung Hoa phiên âm là Đạt Ma, Đâm Ma, Đàm Vô. Từ chỉ mọi sự vật, hiện tượng lớn nhỏ, hữu hình vô hình. Theo Duy thức luận thì Pháp có hai ý nghĩa “Tự thể nhậm trì và quý sinh vật giải “. “Tự thể nhậm trì “ có nghĩa là có khả năng duy trì bảo hộ tự thể của mỗi Pháp. Ví dụ như :Đất có tự thể của Đất, Nước có tự thể của Nước … hữu hình cũng như vô định hình đều có tự thể của nó. ”Quỹ sinh vật giải “ là ý nói mỗi sự vật đều có tự thể của mình đều là trạng thái duy trì bảo hộ tự thể và hạn chế trong sự vật hiện tượng có thực thể mà thôi.

Phật Quang Đại Tự Điển định nghĩa “Quỹ sinh vật giải “ chỉ những căn cứ có khả năng mẫu mực cho nhân luân, khiến cho người ta sản sinh ra cách lý giải đối với những sự vật nào đó. Pháp ở đây có nghĩa cụ thể là đường lối cách thức, phương pháp, nói chung là những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn gọi là Giáo lý: Phải đủ 3 tính chất khế lý, khế cơ, khế thời. Giáo lý của Phật giúp cho con người có một lối sống, sống như thế nào để được gần Phật, để thấy được Phật và có sống gần Phật thì mới thấy được Phật mới có trí tuệ, mới sáng suốt, mới an vui, mới hạnh phúc. Như thế Pháp không là vật quý nhất trên đời thì là gì? Đó là thế gian Đệ nhị Bảo Vật.

Tăng Bảo là gì? tiếng Phạn gọi là Sangha –ratna nói nôm na là Tăng, hay Tăng già. Trung Quốc dịch là Hoà hoặc là Chúng. Tăng Bảo chỉ cho một đoàn thể từ 4 vị trở nên, có đời sống hoà hợp, giải thoát.

 Có thể chia thành:

1.    Thanh Văn Tăng

2.    Bồ Tát Tăng

 Hoặc theo luận trí độ:

1.    Ứng Cúng Tăng

2.    Tam Quy Tăng

 Hoặc phân loại Tam Chủng Tăng:

1.    Thanh Vân Tăng

2.    Duyên Giác Tăng

3.    Bồ Tát Tăng

 Hoặc phân loại Tứ Chủng Tăng:

1.    Dương Tăng

2.    Vô Tu Tăng

3.    Hữu Tu Tăng

4.    Chân Thực Tăng

 Còn có thuyết phân loại:

1.    Thắng Nghĩa Tăng

2.    Thế Tục Tăng

3.    Á Dương Tăng

4.    Vô Tàm Quý Tăng

Nói chung Tăng Bảo là đoàn thể có đời sống hoà hợp thanh tịnh,giải thoát, đại diện Tam Bảo nói chung và thay Phật trao truyền cho chúng sanh những lời dạy của Đức Phật để chúng sanh thực tập áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, hầu đem lại một cuộc sống thật sự an vui hạnh phúc về tinh thần cũng như vật chất trong cõi ta bà này. Do đó Tăng được gọi là thế gian Đệ Tam Bảo.

Thưa quý vị, trên đây chúng tôi đơn cử một cách vắn tắt về Tam Bảo. Bây giờ chúng tôi mạn phép giải trình một vài ý kiến của những vị chưa am tường giáo lý thường cho rằng, sau khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nhập diệt thì không có ai tu thành Phật cả, thậm chí bi quan cho rằng đời này không có Phật và như thế thì đời này tu rất khó thành Phật hay không thể thành Phật.

Những quan niệm này thoáng nghe qua ta thấy có vẻ đung đúng. Nhưng thật ra xét cho kỹ thì không đúng! Bởi vì như trong kinh Đức Phật đã dạy thì hiện nay Ngài vẫn còn là giáo chủ cõi ta bà và như thế về mặt chức năng Đức Phật Thích Ca vẫn còn đương nhiệm. Với ý nghĩa đó ta thấy cũng giống như trong một viện Đại Học chỉ có một Viện trưởng, dầu mỗi năm có rất nhiều tiến sĩ tốt nghiệp.Hơn nữa không phải Đức Thích Ca Nhập Diệt vào Niết Bàn thì chúng sanh tu hành không giải thoát không thành Phật. Như trong kinh Đại Bát Niết Bàn Đức Phật trong giây phút cuối mà còn dạy khi ngài A Nan thưa hỏi bốn điều quan trọng sau cùng: ”Này A Nan ông hỏi sau khi Phật diệt độ lấy ai làm thầy? Nên biết giới Ba La Đề Mộc Xoa là đại sư của các ông. Nương theo đó tu hành thời có thể được định tuệ xuất thế”.

Điều đó chứng tỏ không phải Phật không còn trên đời thì không tu thành Phật,không giải thoát. Mà vấn đề chính là có tu theo và đúng theo lời Phật dạy hay không. Kế đó Phật lại dạy về phép tu như sau: ”Này A Nan!Oâng hỏi sau khi Phật nhập Niết bàn nương gì để trụ? Phải nương pháp tứ niệm xứ mà trụ: Quán sát tánh tướng của thân đồng hư không gọi là thân niệm xứ, quán sát sư ïcảm thọ chẳng ở trong chẳng ở ngoài,chẳng ở chặng giữa,gọi là Thọ Niệm Xứ, quán sát tâm chỉ có danh tự, tánh danh tự rời rạc gọi là Tâm niệm Xứ, quán sát Pháp thiện chẳng thể được Pháp bất thiện cũng chẳng thể được gọi là Pháp Niệm Xứ. Tất cả người tu hành phải nương theo Pháp Tứ Niệm Xứ này mà trụ.

Chữ trụ ở đây phải hiểu là tu,hành trì hay chính xác hơn là sống như thế trong từng hơi thở,sống như Pháp gọi là trụ.

Thưa quý vị sỡ dĩ đưa ra một vài dẫn chứng để chúng ta thấy rằng Phật không chỉ là quý báu mà cực kỳ tôn quý đối với chúng sanh khi còn hiện diện trên đời đã đem lại lợi lạc cho quần sinh mà khi nhập diệt rồi cũng vẫn còn lợi lạc cho muôn đời về sau. Như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đã dạy: ”Lúc Phật còn tại thế có người đem vàng bạc bảy báu, điện đường phòng nhà, y phục,đồ ăn uống, tất cả đồ cần dùng, hoặc vợ con tôi tớ mà cung kính cúng dường Như Lai. Sau khi Phật nhập diệt nếu có người đem những thứ như trên mà cung kính cúng dường tượng Phật, bạch Đức Thế Tôn!phước của hai người này ai nhiều hơn? Phật dạy: ”Vì đều cung kính cúng dường cả nên phước của hai người ấy bằng nhau. Dầu Phật diệt độ nhưng pháp thân vẫn thường còn, nên cung kính cúng dường được phước vẫn đồng như Phật còn hiện tại”.

Không những cúng dường thân Phật hiện tại hay pháp thân đều có phước đức bằng nhau,mà cúng dường Xá Lợi của Ngài cũng được phước như thế. Ta hãy đọc đoạn kinh sau đây trong
phẩm chúc luỵ trong kinh Đại Bát Niết Bàn thì rõ: Ngài A Nan bạch Phật: ”Lúc Phật hiện tại nếu có người đem những vật như trên cung kính cúng dường và sau khi Như Lai nhập Niết bàn, nếu có người đem những vật như trên cung kính cúng dường toàn thân Xá Lợi, phước đức của hai người này ai nhiều hơn?” Phật dạy: ”hai người được phước đức đồng nhau,công đức rộng lớn vô lượng vô biên nhẫn đến hết khổ phước đó chẳng hết”.

Không những cúng dường toàn thân Xá Lơi mà cho đến cúng dường một phần,cho đến ngàn muôn ức phần nhẫn đến Xá Lợi chỉ bằng hạt cải thì phước đức cũng đồng như người cung kính cúng dường Đức Như Lai lúc đang hiện tại.

Và trong kinh Niết Bàn Phật đã dạy như sau: ”Sau khi ta nhập Niết Bàn tất cả chúng sanh, hoặc trên trời hay ở nhân gian được thấy Xá Lợi của ta mà vui mừng thương cảm, cung kính lễ bái. Cúng dường thời được vô lượng vô biên công đức”. Phật lại dạy: ”Này A Nan nếu thấy Xá Lợi của Như Lai, cũng như thấy Phật, thấy Phật là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Tăng là thấy Niết Bàn”.

Như thế ta thấy xá Lợi hay Ngọc xá Lợi Phật có một vai trò rất quan trọng, đối với chúng sanh chúng ta. Xá Lợi Phật không chỉ đơn thuần là vật báu mà còn được biểu trưng như Đức Phật còn tại thế, do đó nếu chúng sanh biết dùng tâm vô nhiễm, tâm bình đẳng tâm vô phân biệt mà lễ bái, cúng dường hoan hỉ, tán thán thì cũng được giải thoát, phước đức vô lượng vô biên.Vì thế Phật dạy khi ngài A Lâu Nâu Đà thưa hỏi về phân chia Xá Lợi như sau: ”Nên dùng tâm bình đẳng phân chia Xá Lợi của Phật khắp ba cõi để tất cả thế gian đều được cúng dường”.

Nếu ta chịu khó quan sát từ những đơn vị nhỏ như chùa, tịnh xá, tịnh thất hay lớn hơn xứ sở, các quốc gia nơi nào có đầy đủ nhân duyên thì có Xá Lợi Phật hoặc Xá Lợi các vị A La Hán xuất hiện thì nơi đó Đạo Pháp được hiển dương tôn trọng và những nơi ấy được phồn vinh thịnh vượng, dân chúng tôn sùng đạo đức, mưa thuận gió hoà.

Ngọc Xá Lợi không chỉ là nhân tố tạo nên mọi sự phước đức mà còn là động lực chuyển xoay tâm hồn con người từ hung dữ trở thành hiền lương, từ vô đạo đức trở thành có đạo đức, từ si mê trở thành giác ngộ. Như trong kinh Đại Bát Niết Bàn phẩm Di Giáo Phật đã dạy: ” Khi Phật nhập Niết Bàn rồi, đại chúng chớ quá sầu não. Vì dầu nhập Niết bàn mà Xá Lợi vẫn còn để cúng dường, lại có những Pháp bảo vô thượng tạng kinh tạng luật, tạng luận… Vì cúng dường Xá Lợi tức Phật Bảo, thấy Phật Bảo là thấy Pháp thân, thấy Pháp thân là thấy hiền thánh, thấy hiền thánh là thấy Tứ Đế, thấy Tứ Đế là thấy Niết Bàn. Do đấy nên biết rằng Tam Bảo trường thịnh không biến đổi có thể làm chổ quy y cho thế gian”.

Ở tại Việt Nam chúng ta từ trước tới nay có nhiều chùa có Xá Lợi Phật. Nhưng chúng ta trước nay chỉ biết đem tâm cung kính, kính tin chứ chưa có một viên Xá Lợi nào được xác minh là Xá Lợi Phật hay Xá Lợi A La Hán. Vừa rồi Đạo Sư Duy Tuệ, vị Chủ tịch sáng lập trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Phật Học Việt Nam qua thăm Thái Lan đạ được Vua Sải và phó Vua Sải Thái Lan chính thức dâng cúng 18 viên Xá Lợi Phật, có giấy tờ xác nhận của Vua Sải và Hoàng Gia Thái Lan công nhận đó là Xá Lợi của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Để cho mọi người cùng thừa hưởng phước đức trong đời này và giải thoát cho mai sau, chúng tôi xin giới thiệu lịch sử 18 viên ngọc Xá Lợi Phật mà Ngài Vua Sải và Ngài phó Vua Sải đã dâng cúng cho toàn thể Phật tử nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung được phước đức. Riêng Phật tử chúng ta càng có cơ sở nền tảng vững chắc cho đức tin về ngôi Tam Bảo, nhất là về Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và Giáo Lý của Ngài là có thật. Như thế con đường giải thoát và cách Sống Tốt Đẹp Đạo Đời của chúng ta càng thêm sáng tỏ. Trước khi hiểu khái quát về lịch sử của Ngọc Xá Lợi mà Chánh phó Vua Sải dâng cúng thiết tưởng cũng nên tìm hiểu thế nào là ngọc Xá Lợi Phật.

Xá Lợi tiếng Phạn là Sarira, Sari, tiếng Trung Hoa dịch âm là Thiết Lị La hay Thiết Lị Da (PHĐTĐGHPGVN xuất bản tại Hà Nội). Tiếng palì gọi là Sari thường phát âm là Xá Lị nhưng lâu ngày đọc viết thành thói quen là Xá Lợi. Đây là danh từ âm chứ không phải nghĩa, tóm lại Sari là hài cốt hay xương cốt của Đức Phật. Với nghĩa như vậy thì ai ai có tu khi chết rồi mà thiêu thì cũng đều có Xá Lợi nhưng chắc chắn không thể giống Xá Lợi của Phật, thậm chí so với Chư vị Bồ Tát, A La Hán, các vị Thiền Sư Hay những vị có công năng tu tập giới định tuệ và thiền định sâu cũng sẽ khác xa.

Sở dĩ được gọi là Ngọc Xá Lợi Phật vì những đặc điểm sau đây:

1. Về số lượng rất nhiều: Đức Thế Tôn dùng sức đại bi làm cho thân kim cang nát thành hạt Xá Lợi nhỏ, chỉ 4 răng nanh còn nguyên vẹn và đựng đầy trong 8 ché bằng vằng mới hết Xá Lợi của Phật (Kinh Đại Bát Niết Bàn HT-Trí Tịnh dịch).

Còn theo cuốn lịch sử Xá Lợi do chùa Kỳ Viên xuất bản năm 1952 do Cư sĩ Nguyễn Văn Hiên biên soạn thì Xá Lợi Phật gồm có 7 miếng lớn thuộc về xương trán, xương vai, răng nhọn và những xương nhỏ bằng hạt đậu xanh, hạt gạo và hạt cải, cân được 16 cân.

2. Rất nhiều màu sắc sáng lóng lánh, nhất là khi tay ta rờ lên có cảm giác êm dịu,mịn màng như nhung.

3. Tuỳ mỗi người nhìn vào và thấy màu sắc hiện lên khác nhau.

4. Nếu ai có diễm phúc được nhìn và đảnh lễ sẽ cảm nhận được những cảm giác lạ nơi mình và sẽ có những phước báu xảy ra sau đó. Như Kinh Đại Niết Bàn mà Phật đã dạy thì không thể nào tưởng tượng hết cái phước báu thù thắng đó.

Tám nước nhận được Xá Lợi Phật là:

1.           Người nước Thành Câu Thi Na

2.           Người nước Ba Kiên La

3.           Người nước Sư Già Na

4.           Người nước A Lặc Gia

5.           Người nước Tỳ Nậu

6.           Người nước Tỳ Gia Ly

7.           Người nước Ca Tỳ La Vệ

8.           Vua A Xà Thế nước Ma Già Đà

 (Kinh Đại Bát Niết Bàn HTTT dịch)

Mặt khác Xá Lợi không chỉ biết là Kết tinh của Thân Vật tứ đại mà là kết tinh của giới định tuệ, của Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi kết tinh của tâm thể Nhất Như hoà đồng cùng tánh thể viên Dung Vũ Trụ Pháp Giới. Do đó Ngọc xá Lợi Phật tuy là vật chất nhưng bao gồm thể tánh Chơn như. Vì thế mới đại diện cho Phật tại thế gian này như trong Đại Bát Niết Bàn đã dẫn đoạn trên.

Đối với Đạo Phật Việt Nam cũng có nhiều vị Thiền Sư đã để lại nhục thân Xá Lợi quý báu, như ở miền Bắc tại chùa Đậu có nhục thân Xá Lợi của hai vị Thiền Sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường. Ba vị tổ sư phái Trúc Lâm, vị nào sau khi tịch thiêu cũng đều có Xá Lợi rất tốt. Nhất là Điều Ngự Giác Hoàng Tịnh Tuệ Trần Nhân Tông khi thiêu có rất nhiều Xá Lợi và đã chia ra làm 3 chỗ để làm tháp thờ tại núi Yên Tử, Chùa Phổ Minh và tại Ngoạ Vân Am.

Trong miền Nam 1963 có Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu phản đối chính sách hạn chế và đàn áp Phầt giáo của chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm để bảo vệ Đạo Pháp và dân tộc, đã lưu lại trái tim Bất Diệt, dầu đốt với lửa mấy ngàn độ vẫn không hề hấn gì. Quả tim ấy có thể nói là Ngọc Xá Lợi, là quốc bảo vô giá chỉ có một và chỉ một mà thôi.

Tôi xin mạn phép giới thiệu sơ lược về Xá Lợi quý hiếm của Đất nước. Vẫn biết rằng còn rất nhiều Xá Lợi quý hiếm nhưng chưa được phát hiện, xác định và kiểm chứng. Bây giờ xin mời quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu khái quát về lịch sử 18 viên ngọc Xá Lợi mà Ngài Chánh Phó Vua Sải Thái Lan dâng cúng cho Đạo Sư Duy Tuệ sẽ đón tiếp về Việt Nam trong một ngày gần đây.

 Đạo Sư Duy-Tuệ kể:

“Sau bảy ngày thăm thành phố Singapore và các chùa ở Singapore, tôi đến thủ đô Bangkok Thái Lan vào ngày 10/05//2001. Trước sau tôi đến Bangkok ít nhất là trên mười lần nhưng lần này tôi có ý định tìm thăm các chùa Việt Nam. Ý định thì như vậy nhưng tôi nói với Chư thiên rằng: ”Đó chỉ là ý định của tôi, ý định của một người phàm, nhưng về sứ mệnh có liên quan đến chánh pháp của chư Phật thì Chư thiên cứ sắp xếp chương trình, mọi việc hay dở là trách nhiệm thuộc về Chư thiên đấy nhé”. Đêm hôm ấy tôi nằm mộng thấy có nhiều vị ở các cõi xa xăm về tìm tôi và nói với tôi rằng họ đến gặp tôi là để tìm trên đầu tôi có chỗ nào để cất viên ngọc xá lợi của Đức Phật Thích Ca hay không. Tôi cũng đồng ý để họ tìm và sau đó họ nói rằng đã tìm được một nơi trên đầu để đặt viên Ngọc Xá Lợi vào ấy, rồi họ cho viên ngọc vào và họ biến mất. Nói là thấy nhưng kỳ thực là không thấy gì cả, mà chỉ nghe âm thanh của họ nhưng giống như là thấy vậy.

Sau đó hai ngày, tôi gặp được Hoà Thượng Thích Cảnh Chiếu chủ tịch Việt Nam Tông (đại thừa) tại Thái Lan. Ngài là vị chủ tịch thứ 11. Ngài ân cần tiếp đoàn chúng tôi và đưa đi thăm nhiều chùa Việt Nam. Ngài giới thiệu về lịch sử các ngôi chùa và trao cho tôi những tài liệu có liên quan. Tổng số chùa Việt Nam trước đây là 15 chùa, nhưng có hai chùa bị thương nhân người Hoa chiếm lấy để xây nhà cho thuê nên còn lại 13 chùa.Sau chuyến đi ấy, Ngài Cảnh Chiếu cho tôi biết là Ngài đã liên lạc được với Ngài Vua Sải Thái Lan… SOMMDETPRAYARNNASUNGVORN SOMDETPRASUNGKARAT SAKOLMAHASUNGKAPARINAYOK và Ngài Vua Sải sẽ tiếp tôi vào sáng sớm ngày 15/05/2001. Chúng tôi được Ngài Cảnh Chiếu đưa đến đồi Pramot, nơi ở và làm việc của Ngài Vua Sải để thăm và vấn an Ngài. Sau buổi tiếp của Ngài với chúng tôi, Ngài Cảnh Chiếu nói lại với tôi rằng Ngài Vua Sải đồng ý cho tôi thỉnh Ngọc Xá Lợi của Phật Thích Ca về Việt Nam thờ phụng và Ngài đến thông báo cho Ngài Tổng thư ký của Vua Sải là…Ven. Bikkhu Vipassi để biết thủ tục, thời gian nhận. Ngài Tổng thư ký hướng dẫn tôi làm một thư xin cung thỉnh đem đưa cho Ngài Tổng thư ký vào buổi chiều cùng ngày. Chiều hôm ấy tôi đích thân trao thư xin cung thỉnh cho Ngài Tổng thư ký. Sau khi đọc thư Ngài Tổng thư ký nói chúng tôi ngồi chờ ở phòng khách để Ngài trình lên Ngài Vua Sải. Ba mươi phút sau, Ngài Tổng thư ký ra trả lời với chúng tôi là sáng mai ngày 16/05/2001 lúc 8h00 giờ sáng có mặt tại đồi Pramot để cung thỉnh Ngọc Xá Lợi từ Ngài Vua Sải trao. Ngài Cảnh Chiếu sắp đặt mọi việc cho tôi từ xe cộ, quà tặng, người quay phim để tôi được nhận các viên ngọc xá lợi lịch sử nầy. Và đúng 8h00 sáng ngày 16/5/2001 đoàn chúng tôi đã thực hiện việc cung thỉnh viên Ngọc xá lợi. Những viên nầy lớn bằng hạt đậu phộng nhưng dẹp. Có màu sắc và hình ảnh rất diệu kỳ. Đoàn chúng tôi gồm có tôi là trưởng đoàn, đại đức Tường Nhân (tăng sinh đang học tại chùa Wat Paknam Bangkok), ni sư Thích nữ Thảo Liên và đạo hữu Nguyễn Thị Bạch Liễu, pháp danh Tịnh Tuệ đã long trọng cung thỉnh Ngọc Xá Lợi.

Ngày hôm sau 17/1/2001 thầy Nhật Thiện (thuộc hệ phái Nam Tông) trụ trì chùa Kiều Đàm quận 2 Tp Ho Chi Minh qua Bangkok. Tôi và thầy Giác Minh (thầy Giác Minh đã tu học tại chùa Wat Paknam Bangkok Thái Lan từ trước năm 1975 đến nay) đi đón tại sân bay Đuông Mường Bangkok. Hôm sau ngày 18/5/2001 ngài Giác Minh thông báo với ngài Nhật Thiện và tôi rằng ngài Giác Minh đã trao đổi với ngài phó Vua sãi Thái Lan, kim trụ trì chùa Wat Paknam là… THE MOST VENERABLE SAMDATPHRAMAHARAD MANGKALACHAN, ABBOT OF WAT PAKNAM… và được ngài đồng ý cho chúng tôi cung thỉnh Ngọc Xá Lợi Phật Thích Ca do đích thân ngài trao. Chúng tôi nhận thông báo là sẽ được trao vào ngày 19/5/2001. Tôi và ngài Nhật Thiện cùng đoàn có sư cô Thảo Liên, phật tử Tịnh Tuệ rất phấn khởi và cùng nói với nhau ngày 19/5 là ngày lịch sử đặc biệt của Việt Nam đó là ngày sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Phật Sự cung thỉnh ngọc xá lợi phật Thích Ca lần này rất là lịch sử, công đức cúng dường của công việc Phật Sự này do phật tử Tịnh Tuệ phát tâm. Các viên ngọc quí báu được trao từ ngài Vua sãi Thái Lan và ngài Phó Vua sãi Thái Lan là biểu tượng báo hiệu phước báu của người Việt Nam đến thời kỳ được hưởng phước báu, đồng thời cũng là thông điệp về mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc Việt-Thái nói riêng và Việt-Thái với thế giới nói chung.

Một trong số các viên ngọc xá lợi Phật do ngài Vua sãi trao sẽ được an vị thờ phượng tại Chùa Vân Tiêu, chùa Hoa Yên núi Yên Tử Quảng Ninh, là thánh địa Phật Giáo Việt Nam đời nhà Trần mãi đần ngày nay. Thánh địa này có một lịch sử đặc biệt đối với Phật Giáo Việt Nam và là một Thánh Tích, một di sản văn hoá quý báu của dân tộc.

Sau khi nhận được xá lợi của Phật tại Thái, chùa Vân Tiêu lại được Trung tâm Unesco Nghiên cứu-Ứng dụng Phật học Việt Nam vận động công đức của nhiều Chư Tôn Đức Hoà Thượng, Thượng toạ, Đại Đức tăng ni cùng Phật tử trong cả nước và hải ngoại ủng hộ trùng tu nhanh chóng cho đồng bào Việt Nam có chùa hành hương lễ Phật. Đến nay(15/8/2001) chùa Vân Tiêu cũng sắp xây xong sau gần ba tháng thi công trong mùa mưa chính. Dự định Lễ Khánh Thành vào ngày Đức Phật thành đạo 8-12 Tân Tỵ.

Cùng với sự mầu nhiệm xây chùa Vân Tiêu ấy, tại thị xã Uông Bí đã diễn ra một cuộc hội thảo khoa học về “Trần Nhân Tông và Di Sản Văn Hoá Yên Tử“ do Trung Tâm Unesco Nghiên cứu –Ứng dụng Phật Học Việt Nam phối hợp cùng Sở Văn Hoá Thông Tin tỉnh Quảng Ninh, Ủy Ban Nhân Dân thị xã Uông Bí cùng tổ chức. Hội Thảo đã quy tụ gần 200 nhà khoa học, giáo sư, nhà sử học, nhà sư… về dự. Hội đồng chủ tịch đoàn của hội thảo gồm các ông Haa Văn Hiền, Uỷ viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bí thư kiêm chủ tịch tỉnh Uông Bí, ông tiến sĩ Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Bảo Tồn Bảo Tàng Bộ Văn Hoá Việt Nam; ông Nguyễn Trực Luyện, chủ tịch Hội Kiến Trúc sư Việt Nam, kiêm chủ tịch Hiệp Hội CLB Unesco Việt Nam; giáo sư Phan Huy Lê chủ tịch Hội Sử Học Việt Nam; ông Phạm Hải Đường, chủ tịch Uûy Ban Nhân Dân Thị xã Uông Bí.

Các nhà khoa học, sử học, phật học, đại diện Đảng và Nhà Nước tỉnh Quảng Ninh, đại diện Bộ Văn Hoá, đại diện Quốc Hội, nhà văn, nhà thơ….. đã đọc nhiều bài tham luận quan trọng .Hội thảo đã công nhận được hai vấn đề rất trọng đại là: danh thắng Yên Tử là một Thánh tích Phật Giáo quan trọng cần phải được tôn tạo, bảo tồn và phát triển tinh thần di sản văn hoá này và hai là công nhận Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh, tài ba lỗi lạc, là bậc vĩ nhân về trị nước, về văn hoá, về quân sự và là một nhà tu hành theo đạo Phật đã đắc đạo. Ngài là một Phật Hoàng. Giáo sư Phan Huy Lê thay mặt đoàn chủ tịch kết luận kêu gọi mọi người cùng có nghĩa vụ tham gia trùng tu, bảo tồn và phát huy Di Sản Văn Hoá Yên Tử theo gương sáng Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Trên đây giới thiệu tóm tắt về 18 viên Ngọc Xá Lợi của Phật Thích Ca Mâu Ni tại Việt nam có lịch sử hẳn hoi và sẽ được giới thiệu qua các bức ảnh dưới đây. Đồng thời quý vị có thể xem qua Video hoặc VCD”.

 Thủ-Đô Hà-Nội,ngày 26-6-2001

 Đạo-Sư Duy-Tuệ và T.T.Thích Thanh-Thế