Tại sao phải học và thực hành những lời Phật dạy?

(Buổi nói chuyện của Đạo – Sư Duy – Tuệ với Phật – tử Phnom–Penh do Hội Việt Kiều Phom–Penh tổ chức ngày 1-9-2001 tại chùa Tịnh Minh, một chùa nhỏ do bà con góp tiền mua đất xây ở gần cầu Sài Gòn, khu đông người Việt sinh sống.)

Đề tài: Tại sao phải học và thực hành những lời Phật dạy?

1/ Giới thiệu sơ lược về Đức Phật :

     Đức Phật Thích Ca, trước khi trở thành vị Phật là Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, mẹ mất sớm lúc mới sinh Ngài một tuần lễ, người dì nuôi dưỡng. Trước khi từ bỏ cung điện tìm nơi tụ tập mong khai mở thanh trí, Ngài có một chánh phi, nhiều phi tần mỹ nữ và có một người con trai mới sinh tên là La Hầu La. Ngài đi tu là vì cuộc sống bình thường lập đi lặp lại của thế gian không hấp dẫn được Ngài, Ngài muốn có thanh trí để cứu khổ cho muốn loài, đó là ước nguyện cũng là niềm vui của Ngài.

     Nửa đêm Ngài lén ra đi vào rừng tu theo lối khổ hạnh, khổ hạnh nhất của khổ hạnh, được sáu năm nhưng không mở ra được thanh trí gì mới mẻ. Sau đó, Ngài thay đổi đường lối luyện tập. Trước nhất, Ngài ăn uống, tắm giặt bình thường và thiền về các kinh nghiệm hạnh phúc của Ngài trong quá khứ đột nhiên Ngài khám phá chân lý nơi chính Ngài. Ngài tuyên bố: ”Ta đã chứng được tâm vô lậu và tuệ giải thoát, từ đây tâm trí ta không còn đau khổ nữa”. Từ đó vô lượng thánh trí phát sinh, Ngài đã khám phá bốn chân lý cũng là những thánh trí căn bản giúp chúng sanh vượt qua đau khổ đạt đến cứu – cánh niết bàn, chấm dứt luân hồi sinh tử.

    Bốn chân lý đó là gì ?

     Chân lý thứ nhất - Nói về khổ đau : Do Ngài chứng được nguồn tâm vô lậu, vô nhiễm nên đã phát thánh trí, bằng thánh trí. Ngài thấy rõ chúng sanh đang sống trong vô vàn khổ đau. Những điều mình muốn mà không được là khổ; những gì mình không thích mà nó cứ đến là khổ; nghèo đói là khổ; bị ức hiếp là khổ; biết mình sẽ chết là khổ; không có sản điền là khổ, có rồi cũng khổ; chưa có người yêu cũng khổ, có rồi cũng khổ; ưng làm quan làm vua mà chưa được cũng khổ, được rồi cũng khổ, chưa giàu cũng khổ, giàu rồi cũng khổ, muốn ra ngoại quốc sống mà chưa được cũng khổ, khi được rồi cũng khổ; có vợ có chồng không vừa ý muốn ly dị mà chưa xong cũng khổ, ly dị rồi một thời gian sau cũng khổ.v.v… Tóm lại có muôn ngàn cảnh khổ mà con người phải đương đầu gánh chịu!

     Chân lý thứ hai - Nguyên nhân đưa đến sự khổ : nguyên nhân chính là vì ta có mặt ở đời, ta có thân và có tâm. Từ sự có nầy dẫn đến các vấn đề khác, đó là: sự ham muốn của ta luôn phát triển từ đơn sơ đến phức tạp, từ ít đến vô giới hạn! Không thể dừng lại ở mức đủ nào cả. Nguyên nhân nữa là lòng sâu hận hay đau buồn cũng đưa ta đến đau khổ. Lòng ham muốn hay sâu hận đau buồn dẫn đến vô lượng suy nghĩ, vô lượng ý  tưởng là nguyên nhân trực tiếp đưa đến khổ đau. Còn nguyên nhân vô cùng quan trọng nữa là ít khi nào ta nhìn cuộc đời bằng trí thông minh của chính ta, tức nhìn bằng cái tâm vô nhiễm, tâm hết sức đơn giản mà thường nhìn qua lý trí hơn thua, qua cái tâm tiêm nhiễm phức tạp, mà ta thường chủ quan tin tưởng rằng đó là sự hiểu biết minh mẫn của ta. Từ cách nhìn này sẽ đưa ta đến vô lượng suy nghĩ, vô lượng đánh giá theo tưởng tượng nên dẫn đến khổ đau.

     Chân lý thứ ba là - Cảnh giới của hạnh phúc chân thật khi nguyên nhân gây ra khổ đau không còn nữa. Trong kinh thường nói cảnh gjới mẩn của ta. Từ cách nhìn này sẽ đưa ta đến vô lượng suy nghĩ, vô lượng đánh giá theo tưởng tượng nên dẫn đến khổ đau.

     Chân lý thứ ba là - Cảnh giới của hạnh phúc chân thật khi nguyên nhân gây ra khổ đau không còn nữa. Trong kinh thường nói cảnh giới hạnh phúc chân thật này là cảnh giới niết bàn. Chúng ta có sự khoái lạc của thân và có sự vui thích của tâm. Thường thì chúng ta chỉ đạt đến hai cấp bậc vui thích ấy trong cuộc sống. Khi đạt được hai cấp bậc vui sướng ấy ta coi như đó là hạnh phúc. Nó cũng không thường xảy ra nhiều. Nước mắt của khổ đau nhiều hơn. Cảnh giới hạnh phúc chân thật nơi Phật dạy thì cao hơn hai tuần vui sướng nêu trên. Nó là một cõi vui sướng ngay tại chính ta, ngay nơi đây không có lý trí xuất hiện hay can thiệp, một trạng thái hạnh phúc khi nguyên nhân gây ra khổ đau chấm dứt thì nó sẽ xuất hiện, khác xa với niềm vui sướng mà ta có được do thực hiện một số điều kiện nào đó. Trạng thái hạnh phúc siêu việt nầy không thể hiện bằng tưởng tượng được, không thể hiểu bằng suy luận được mà phải bằng việc thực hiện lời Phật dạy ngay đó sẽ có chứng nghiệm linh ứng.

     Như vậy là cảnh giới hạnh phúc này hoàn toàn có thật nơi chính ta, đã sẵn rồi nhưng bị che lấp bởi các phiền não, đau khổ và các nguyên nhân gây ra chúng.

     Chân lý thứ tư là - Những con đường đưa đến chấm dứt khổ đau: Trong kinh gọi những con đường đó là tám con đường thánh.

Đó là: 

         Chánh kiến: Cái nhìn chân chánh

         Chánh tư duy: Sự suy nghĩ chân chánh

Chánh ngữ: Nói bằng chân chánh

Chánh nghiệp: Hành vi cư xử chân chánh

Chánh mạng: Thanh mạng được nuôi dưỡng chân chánh

 Chánh tin tấn: Siêng-năng tích cực với động cơ chân chánh

Chánh niệm: Có những ý tưởng chánh đáng

Chánh định: Luôn giữ lòng thanh thản trước mọi hoàn cảnh

     Đây là tám con đường quyết-định để thực hành tiêu- diệt khổ đau cho chúng sanh. Mỗi con đường phải thực hiện tuỳ theo trình độ văn hoá, tuỳ theo hoàn cảnh, mà thực hiện. Tuỳ theo tình trạng tâm vướng mắc để tâm trở lại trạng thái an vui niết bàn.

2. Tại sao phải học Phật

     Như vậy học đạo  Phật là để quyết khổ đau, trở thành người thông minh về tinh thần, mạnh khoẻ về thể chất.

     Khi thành người thông minh thì cuộc đời chúng ta sẽ thay đổi từ thấp hèn thành cao quý, từ nhỏ nhen thành rộng lớn, từ tiểu nhân thành đại nhân, từ xấu thành tốt, từ kiêu ngạo thành khiêm tốn, từ người giá trị thấp tiến lên người có giá trị cao trong xã hội.

     Khi học Phật ta dễ từ người nghèo thành người giàu, từ người thường gặp khó khăn thành người thường có nhiều may mắn. Tại sao vậy?

     Thứ nhất là phước đức tăng

     Khi quý vị vừa mới bắt đầu tin Phật thì phước đức cũng bắt đầu tăng. Quý vị phải biết rằng phước đức của những bậc khai ngộ rất là lớn. Nhục thân Đức Phật đã mất hơn hai ngàn năm trăm năm rồi mà từ ấy đến nay phước đức của Ngài còn đó mỗi ngày càng hiển lộ nuôi hàng triệu triệu chúng tăng, đem lại sự may mắn cho hằng triệu triệu Phật Tử. Không một tăng ni nào tài giỏi cà! Dù tu học đến bằng cấp cao nhất trong ngành Phật học cũng không phải là tài giỏi gì, có thành nổi tiếng là thiền sư cũng chẳng có tài giỏi gì, nếu có tài giỏi là giỏi nương vào phước đức của chư Phật mà sống vinh hiển mà thôi! Nếu ngày nào có ngã mạn nhưng đừng bỏ hình thức đệ tử Phật thì Phật cũng hoan hỉ mà khiến cho no cơm ấm áo chỗ ở thênh thang! Nhưng nếu ngông cuồng mà bỏ hình thức đệ tử Phật thì không đảm bảo cơm ăn áo mặc nhà ở được. Vậy các Phật Tử hãy mau nương vào cửa Phật để được hưởng phước của Phật.

     Thứ hai là phát huy được năng lực có sẵn nơi ta.

     Nhờ học Phật mà chúng ta có thể khám phá nhiều điều bí ẩn trong chính ta, từ sự khám phá này sẽ dẫn đến sự khám phá thế giới chung quanh ta từ đó chúng ta khai phóng được năng lực vốn sẵn có nơi ta và biết khai phóng năng lực của thế giới quanh ta làm cho cuộc sống của ta và chung quanh thay đổi ngày một tốt đẹp.

     Chúng ta có ba tầng năng lực :

Năng lực thông thường

Năng lực vượt mức thông thường

Năng lực Phật trong chính ta

     Đại bộ phận chúng sanh chỉ sử dụng năng lực thứ nhất. Cũng có một số không nhỏ đã nỗ lực lúc sử dụng năng lực thứ hai, nhưng ít người biết sử dụng năng-lực thứ ba. Chúng ta thấy Đức Phật đã dạy cách khai thác năng lượng thứ ba trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa như thế nào? Khi có chúng sanh nào trong hoàn cảnh bức bách vô phương thoát khỏi đại nạn thì hãy niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì liền được cứu khỏi! Đó chính là mật pháp để khai thác năng lực Phật trong chính chúng ta và hợp nhất với năng lực Phật của mười phương và hợp nhất với Phật lực của vũ trụ vậy.

3. Vấn đề thờ cúng.

     Những bậc giác ngộ có lợi nguyện cứu giúp chúng sanh khi họ khẩn cầu, lực mầu nhiệm của các Ngài không thể đem ra suy lường là hợp lý hay không, lực ấy nằm ngoài logic hữu hình nó thuộc logic vô hình. Chỉ những bậc khai ngộ mới hiểu được logic vô hình nên các vị ấy mới chỉ dạy cho chúng sanh kỹ thuật khai thác, nếu tin thì sẽ thưởng thức sự mầu nhiệm. Những bức tượng của các bậc vĩ nhân đặc biệt đối với các bậc giác ngộ chúng ta nên thờ phượng họ.

     Các tượng ấy có hai sự mầu nhiệm: thứ nhất là các tượng đóng vai trò trợ duyên giúp cho điều vị diệu trong ta được khai phóng, điều vi diệu nhất trong ta là Phật lực của ta. Đức Phật Thích Ca nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, cũng có nghĩa là chúng sanh nào cũng có Phật lực. Đừng lý giải, đừng nghi ngờ hãy cứ thờ phượng như là vật làm mồi cho bên trong ta.

     Sự mầu nhiệm thứ hai là những tượng ấy có tha lực. Tại sao vậy? Tại vì nó có mặt vật chất không thấy được đó là tánh không, tánh rỗng không của chúng, là mẹ đẻ ra chúng vậy.

     Do những thực tế nêu trên nên ta thờ người đầu tiên là Phật Thích Ca. Nếu có điều kiện nên thờ Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm. Đó là các vị hộ trì chung cho các cõi. Ngoài ra ta nên thờ các bậc Thánh, các bậc có công đức lớn đối với dân với đất nước quê hương của mình. Như ở Việt Nam có Đức Vua Phật Trần Nhân Tông, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, hai người mẹ khai quốc công thần là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Quý vị thấy người Hoa kiều làm ăn sinh sống trên khắp thế giới họ thờ Ngài Quan Công, Lưu Bị và Trương Phi mà họ làm ăn khấm khá. Người Việt Nam nên thờ các vị đã nêu trên thì đời sống của mình cũng sẽ thay đổi. Nhưng nhớ rằng đã thờ thì phải tin, phải kêu các Ngài, giống như là cuộc đời ta không có chỉ có các Ngài trong ta thôi!

4. Ngoài thờ phượng còn làm gì nữa?

     Phải tụng niệm hàng ngày. Chúng tôi nói điều này là nhằm giúp cho quý vị dễ có đời sống vật chất. Nếu quý vị chịu khó niệm Quán – Thế  Âm Bồ – Tát, niệm đức Trần Nhân Tông, niệm đức Trần Hưng Đạo hàng ngày cùng với ngày cùng với tụng một hoặc vài bài kinh trong kinh nhật tụng thì sẽ không lo lắng nhiều đến cơm ăn, nhà ở, áo quần. Phải thành tâm mới được. Thành tâm nghĩa là biết phước của mình kém quá nên phải nương nhờ phước của các Ngài. Đừng nghi ngờ, đừng kiêu mạn.

     Cầu việc gì chánh đáng lớn lao thì niệm chú Lăng Nghiêm.

"Án A Na Lệ Tỳ Xá Đề Bệ Ra Bạt Xà Ra Đà Rị Bàn Đà Bàn Đa Nể Bạt Xa Ra Bàn Ni Phấn Hổ Hồng Đô Lô Ung Phấn Ta Bà Ha"

     Ban đêm nhớ niệm Nam Mô A Di Đà Phật để tốt cho Cửu Huyền Thát Tổ, tốt cho mình khi con quỹ Vô thường đến, tức cái chết đến.

     Khi làm ăn buôn bán, tật bệnh bên cạnh các nỗ lực thông thường của con người thì nên niệm thêm bài chú linh cảm Bồ Tát Quán Thế Âm: 

"Om Ma Ni Padme Hum"

5. Kỹ thuật điều tâm đơn giản nhưng quan trọng

     Khi chúng ta có sự mong cầu chánh đáng như mong cầu chỗ ở chẳng hạn thì ta nhớ niệm trong tâm rằng: “Không tức thị sắc”. Giờ chưa có nhưng sau đây sẽ có đừng lo, đừng buồn khổ, Phật đã dạy như thế.

     Nhưng khi có rồi thì nhớ niệm: “Sắc tức thị không”. Việc có nầy cũng như bọt bèo, có rồi hoàn không, Phật đã dạy như thế nên đừng luyến ái cái có đó nó sẽ quay lại siết cổ ta đấy. Như vậy ta sẽ không nô lệ cho vật chất.

6. Lợi ích của ngôi chùa sẽ xây cho cộng đồng người Việt sắp tới.

     Chúng tôi thấy các cộng đồng ngoại kiều như người Ấn sống tại Singapore họ sống quần dưới một niềm tin tôn giáo của họ. Sống như vậy sẽ có ích cho họ về vật chất lẫn tinh thần. Đất nước Kampuchia đạo Phật là quốc giáo, đa số bà con ta theo đạo Phật nên việc xây dựng một ngôi chùa khang trang ở đây rất phù hợp cho hoàn cảnh hiện nay của bà con Việt Kiều. Ngôi chùa sẽ đóng vai trò mái nhà văn hóa dân tộc Việt, là trung tâm tín ngưỡng sẽ góp phần bảo vệ đời sống vật chất tinh thần cho bà con. Ngôi chùa ở đây có vai trò khác hẳn các nơi trên thế giới và khác hẳn ở nước nhà.

Nam Mô A Di Đà Phật