Ha-noi, ngay 14/12/2001
Một số đặc-điểm của thiền Việt-nam
Có một nhà nghiên-cứu về Đông-Nam-Á-Học người Thái-Lan nói với tôi rằng Việt-nam không có thiền mà chỉ có thiền của Trung-Quốc truyền vào. Thời vua Trần-Nhân-Tông theo nhiều tài liệu nói rằng có tính chất Việt-nam v́ rằng nó là thiền nhập thế có kết hợp học giáo-lư Phật và ngồi thiền th́ đặc điểm nầy cũng không cá biệt ǵ mấy bởi lẽ Trung-Quốc cũng có những tính chất ấy.
Điều ấy cũng đúng bởi lẽ tư-tưởng và thực-tiễn Trung-quốc về Phật-thừa họ không phân biệt tại-gia hay xuất-gia. C̣n tư-tưởng nhập-thế trong thiền th́ quá rơ nét qua mười tranh chăn trâu mà tất cả những ai quan-tâm đến đạo Phật hay thiền đều biết.
l
Tôi trao đổi với vị giáo-sư nầy rằng:
Vấn-đề nầy cần phải nắm vững năm nội-dung quan-trọng sau đây để làm cơ-sở nói đến thiền của Việt-nam:
1/ Thế nào là thiền.
2/ Giáo-lư cốt-lơi của Phật-Đà là ǵ.
3/ Hoàn cảnh của một dân-tộc, một đất nước lúc đạo Phật được truyền vào.
4/ Đặc-điểm văn-hoá của dân-tộc ấy
5/ Những cá- nhân tiêu-biểu thấm-nhuần giáo-lư Phật-Đà đă có ảnh-hưởng tích cực đến vận-mạng của dân-tộc và tổ-quốc ấy.
1/ Nói sơ qua về thiền theo đức Phật:
Đức Phật mượn hoa sen để chỉ cho nguồn tâm vô-nhiễm ở mỗi chúng ta. Thiền có liên quan đến hoa sen nầy. Đức Phật ngồi dưới gốc Bồ-đề đă nhận ra hoa sen nầy. Khi Ngài nhận ra hoa sen nầy tức thời hoa sen nở ra ngàn cánh hay vô lượng cánh cũng thế. Thiền là kỹ-thuật điều tâm hướng về hoa sen nầy. Toàn bộ hành động nầy là của tâm-trí để đưa toàn bộ tâm-trí lăng-xăng trở về trạng-thái nhất-tâm bất loạn. Khi đă đến đó th́ dùng ư-thức chuyển về trạng-thái buông-xả gọi là thiền vô- thiền để về trạng-thái vô-niệm, trạng-thái gọi là bản-lai diện-mục. Đến đây mục-đích của thiền chấm dứt, búp sen nở ra ngàn cánh! Sự nhiệm-mầu của nó sẽ phát-triển vượt ngoài sự suy-luận của lư-trí. Thiền không liên quan ǵ đến các h́nh thức của các tổ-chức, cũng không liên quan đến kinh sách . V́ vậy nó không độc quyền của bất cứ tôn-giáo nào.
Khi hoa ḷng hay hoa-sen ngàn cánh đă nở th́ vấn-đề c̣n lại là sử dụng nó như thế nào để có lợi cho tha nhân. Sử dụng vô-ngại tự-tại dựa trên đạo-đức con người gắng liền vớiø đạo-đức dân-tộc và đạo-đức nhân-loại.
2/ Nói qua về giáo-lư cơ-bản của đức Phật:
Các giáo-lư cơ-bản của Phật-Đà thể-hiện qua các kinh: Tứ-Diệu-Đế, kinh Vô-ngă, kinh Duyên-Khởi và kinh Tứ-Niệm-Xứ . Tất cả các kinh luật luận khác đều từ những kinh nầy mà h́nh thành. Nội dung chính của các kinh nầy là giúp cho chúng-sanh dùng ư-thức nhận ra sự vững bền và mầu-nhiệm của nguồn tâm vô-nhiễm và tính chất vô-thường khổ đau của vô-lượng tâm sanh-diệt. Nhưng khi nhận ra được tính chất ấy rồi th́ các tâm sanh-diệt lập tức trở thành tâm phương-tiện để chúng ta sử dụng làm lợi ích cho ta cho người.
Như vậy giáo-lư của Phật giúp cho con người nhận biết cái tâm và chủ động sử-dụng tâm. Tuỳ theo căn- cơ mà hiểu và cũng sử-dụng tuỳ theo căn-cơ của ,mỗi người.
Một hôm, hàng ngàn đệ-tử ngồi quanh đức Phật để chờ nghe Ngài thuyết giảng nhưng hôm đó Ngài đă không thuyết giảng và trên tay cầm một hoa sen. Không ai hiểu chuyện ǵ và tại sao Ngài không thuyết giảng mà cầm hoa sen và ngồi im-lặng. Một lúc sau Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp mỉm cười và đức Phật đă trao hoa sen ấy cho Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp.
Cái nói được và cái hành động được, cái thấy bằng mắt thịt chỉ là cái bên ngoài, c̣n xa lắm với cái sâu kín bên trong, phật-tánh. Cái đó không làm sao thấy được bằng mắt thịt, không làm sao nói được. không làm sao trao truyền được, không thể dùng hành động nào để đạt được. Nhưng Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp đă nhận được. Phật biết được điều đó nên Phật đă đưa hoa sen mà Phật đang cầm trên tay cho Ma-Ha-Ca-Diếp có ư-nghĩa chứng minh hay xác-nhận cho Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp.
Từ Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp măi đến Ngài Bồ-Đề Đạt-Ma các Tổ chỉ cho nhau cái ấy. Thời đại Bồ-Đề Đạt-Ma đạo Phật ở Trung-quốc đă phát triển hết sức mạnh mẽ nhưng chủ yếu phát-triển về mặt h́nh-thức. Ngay t́nh- h́nh ấy Ngài Đạt-Ma đă xuất-hiện ở Trung-quốc như là một sứ-mệnh đặc-biệt trợ-duyên cho đạo Phật Trung- quốc có sức sống bên trong tâm hồn của tu-sĩ và phật-tử. Bồ-Đề Đạt-Ma trợ duyên cho đạo Phật Trung-quốc thành một cây đại thụ có bộ rễ vững chải làm chỗ dựa vững chắc cho nhu cầu sống đạo của từng lớp trên ở Trung-quốc. Trung-quốc lúc ấy có nhu cầu thống nhất các dân-tộc trong một tổ- quốc rộng lớn, thiền của Trung-quốc h́nh thành trong tinh-huống đó. Thiền của nước lớn có nhu cầu thống- nhất và thống-trị.
Đạo Phật vào Việt-nam cũng rất sớm. Việt-nam lúc ấy cho đến măi thếkỹĩ 18 được coi như một huyện nhỏ bé và biên-địa của trung-quốc nên họ không cho Việt-nam được độc lập, có chủ quyền, có nhân phẩm quốc-gia và con người! Việt-nam tự khẳng-định ḿnh trong t́nh-h́nh ấy. Người Việt phải sử-dụng tất cả mọi tiềm-lực của đất nước ḿnh để vương lên , tồn-tại và phát-triển trong khổ đau và tuổi-nhục gần hai ngàn năm ṛng-ră. Tất cả các đạo bản-địa và du nhập đều phải phục-vụ cho nhu cầu ấy.
Phật dạy khổ đau cần phải được giải-quyết trước hết là khổ đau của nghèo đói, khổ đau của mất nhân phẩm làm người, khổ đau của một tổ-quốc luôn bị kẻ mạnh chà đạp.
H́nh ảnh đức Phật trong sáu năm tu khổ-hạnh đă không đem lại kết quả cho Ngài, Ngài phải thay đổi pháp tu và ăn uống binh-thường trở lại, sau đó Ngài đă ngộ phật-tâm bằng con đương trung-đạo. Nhưng như chúng thấy đầy dẫy hiện nay khắp thế-giới những người có ḷng mong muốn theo con đương của Phật lại phóng tâm khỏi con đường trung-đạo, mặc dầu họ có học trung-đạo.
Chúng ta thử h́nh dung một đất nước không có hoà b́nh, không có an ninh tốt và đói kém th́ những người có tấm ḷng nhân- đạo, hay có ḷng từ mẩn th́ làm ǵ đây? Chúng ta không thể nói cả nước cứ tụng kinh và ngồi thiền suốt ngày rồi sẽ được tất cả!
Thông qua kinh điển ghi lại chúng ta thấy lúc đức Phật tại thế phần lớn những người theo học với Ngài là những người thuộc tầng lớp trên, đời sống vật-chất đầy đủ, họ chỉ khao-khát đời sống tâm-linh hay đời sống tinh-thần siêu-việt. Quư vị đọc trong các kinh sẽ thấy nhũng chúng hội gần như hầu hết là no đủ về vật-chất, họ đă tạm thoả-măn vật-chất. Và tầm vóc về trí-tuệ , về phong cách, về văn-hoá cũng gần như thượng-thặng.
Như vậy giáo-lư cao siêu thâm-diệu của Phật quả thật không phải người tầm thường có thể lĩnh hội được, đặc-biệt lại là giáo-lư đại-thừa. V́ vậy cho nên đức Phật dễ trở thành biểu-tượng cho sự cầu cúng của đại-chúng! Giáo-lư của Phật giúp cho con người phải thức-tỉnh với thực-tại, chấp-nhận thực tại vô-thường và đầy bất ổn. Sự chấp nhận nầy dễ đưa đến tinh-thần vô-ngă để hoà quyện trong cuộc sống đầy sinh-động. Điều nầy cũng nói lên thiền là ǵ. Cuộc sống tự nó không là khổ đau hay hạnh-phúc, nhưng v́ ta không có bản-lĩnh chấp-nhận và hoà quyện vào mà lại có khuynh-hướng lôi kéo theo ư-tưởng ta và ra sức đối phó theo ư ta nên phải khổ đau. Khổ đau là sản phẩm của tinh-thần, sự thật là như vậy, hăy b́nh tâm mà suy-gẫm trên thực-tiễn sinh động của cuộc sống, trực-giác sẽ cho ta chứng nghiệm điều nầy. Đó cũng nói lên mục-đích của thiền là ǵ.
Ai đă có phước báu thâm-nhập những lời dạy cốt-lơi của Phật với trạng-thái tâm đơn-giản th́ bản-chất thanh-tịnh của tâm xuất hiện và ta sẽ sống với trạng-thái thanh-tịnh ấy, c̣n nếu ta phóng tâm t́m kiếm những huyền-hoặc th́ tâm-tưởng sẽ dẫn dắt ta đi vào cơi địa-ngục không thể tránh khỏi.
3/ vài nét về t́nh-h́nh Việt-nam thời ấy.
Việt-nam vào khoảng đầu công-nguyên là một nước Giao-chỉ nhỏ bé tứ bề bị kẻ thù bao vây đánh phá liên tục: phía bắc là Trung-hoa phong-kiến bá quyền, phía tây có Lào đánh phá và phía nam có Chiêm-thành cũng liên-tục đánh phá. Về kinh-tế chủ-yếu là nông-nghiệp thô sơ, giao thông gồm đường bộ, đường đất, đường thuỷ thô sơ, về tín-ngưỡng chủ yếu thờ Thần và Thánh. Thần và Thánh chủ yếu là các vị có công mở mang, phát-triển và bảo-vệ đất nước. Thương-mại chủ yếu buôn bán chợ h́nh thức gọn nhẹ theo kiểu địa-phương nhỏ. Đương nhiên công-nghiệp và đô-thị chưa phát-triển. Về sức dân phần lớn dồn vào việc chống sự thống-trị phương-bắc.
4/ Vài nét về văn-hoá thời đầu công-nguyên.
Việt-nam có nền văn-hoá lúa nước lâu đời, mà đặc-điểm của nó là hiền hoà, giản-dị, mơ ước hoà-b́nh, độc-lập. Những đặc-điểm ấy được biểu-hiện qua các sinh –hoạt lễ-hội cộng-đồng.
5/ Những cá-nhân tiêu-biểu có thể qua cuộc đời của họ mà ta có thể hiểu đặc-điểm thiền Việt-nam.
Nếu một người nào đó, nhất là người ngoại quốc muốn hiểu về thiền Việt-nam th́ khó mà t́m hiểu thông qua các thiền đường được, mà phải hiểu qua hành trạng nhiều nhân vật nổi tiếng là những nhà văn –hoá lớn của dân-tộc.
Ta có thể nêu lên vài nhân-vật tiêu-biểu như:
A* Đời Lư: thế kỷ thứ 10 có Thiền-sư Vạn-Hạnh, Ỷ-Lan…
B* Đời Trần: Thếkỹĩ 12, 13 Hoàng-Đế Trần-Thái-Tông, Trần-Thánh-Tông, Trần-Tung (tức Tuệ-Trung Thượng-Sỹ), Trần-Nhân-Tông v.v..
Sau nầy có Ngô-Thời-Nhiệmv. v…
Đó là những con người có sự cống-hiến to lớn cho dân-tộc và tổ-quốc. Họ nắm được yếu-chỉ của Phật- Đa, sống rất hợp đạo và cống-hiến to lớn. Phần lớn họ tự phong là Thiền-sư hoặc có một nhóm người tâm đắc phong cho họ.
Họ biết sử-dụng chức quyền, sử-dụng ngũ-dục, sử-dụng tri-thức cho quyền lợi dân-tộc mà không hề than thân trách phận, không hề tiếc rẻ sự hưởng thụ, họ sống không cầu thành tiên thành Phật và chết cũng không cần phải cầu Phật cầu Tổ như Trần-Nhân-Tông chẳng hạn. Họ hoàn-toàn không chấp vào bất cứ h́nh-thức nào về đời sống đạo, không chấp vào việc tu-hành hay không tu-hành.