CẦN CHÚ Ý ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ CỐT LÕI
TƯ TƯỞNG CỦA NGÀI TRẦN NHÂN TÔNG

 (2/8/2001)

          Chúng ta nghiên cứu về cuộc đời Phật Hoàng Trần Nhân Tông để làm gì ? Chúng tôi là người Phật tử Việt Nam cũng có nhiều ưu tư đi tìm hướng đi tâm linh cho chính mình và nếu được sẽ góp phần tham gia xây dựng hướng đi cho đạo Phật v.v… cho Phật tử Việt Nam. Trên tinh thần đó, chúng tôi có nhiều bài nghiên cứu về cuộc đời đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông để giới thiệu cùng quý Phật tử tham khảo. Việc làm này chỉ mong chúng ta tìm ra hướng đi tâm linh phù hợp nhất cho mỗi Phật tử Việt Nam, nhằm đạt được ba mục tiêu : tốt mình,  tốt đạo, tốt đời.

1.     Quan điểm Phật giáo Tổng quan :

Đức Trần Nhân Tông không có tâm phân biệt đối với các hệ phái Phật giáo, Ngài không kẹt trong cái nhìn về đạo Phật, bị bó hẹp trong các hệ phái. Như chúng ta thấy quan niệm về các vị Phật, thì Phật giáo Nam Tông chỉ thừa nhận một số vị Phật ra đời trước đức Thích Ca và Phật Thích Ca là Phật Bổn Tôn và Phật Di Lặc là Phật Vị Lai nhưng không nhắc đế Phật A Di Đà. Đức Trần Nhân Tông tôn kính các vị Phật như nhau nhưng lại thêm rằng các vị Phật ấy đều có trong tâm ta cả, như ta thấy trong Cư Trần Lạc Đạo Phú :

“Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc”

“Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca”

“Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉnh thực ấy là Di Lặc”

“Vậy mới hay !

Bụt ở trong nhà

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt

Đến cốc hay chính Bụt là ta”

(Trích thơ văn Lý Trần của UBKHXHVN – Viện Văn học do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB KHXH Hà Nộitrong quyển Lê Mạnh Thác, Trần Nhân Tông toàn tập, NXB TP.HCM, 2000)

2.     Mẫu người Phật tử Việt Nam :

Ngài đã đưa ra mẫu người Phật tử Việt Nam thời bấy giờ mà vẫn có giá trị đến ngày nay cho Việt Nam và cả thế giới nữa.

Mẫu người ấy như thế nào?

Đứng ở phạm trù là một Phật tử, nên sống theo hạnh Bồ Tát, là người đã ngộ được bản tâm, đã chứng nghiệm được tánh không của vạn pháp, phát đại bị tâm sống với chúng sanh để làm chỗ dựa tinh thần giúp đỡ họ.

Nhưng đứng về phạm trù chủ quan cuộc đời thì Ngài lấy tiêu chuẩn trượng phu Việt Nam làm tiêu biểu. Tiêu chuẩn Trượng phu Đại Việt là “Ngay thờ Chùa, Thảo thờ Cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu”. Khái niệm Chúa ở đây ngày nay được hiểu là Tổ quốc, là quyền lợi của nhân dân và chính sách cai trị của các nhà lãnh đạo đất nước kết hợp hạnh đức Bồ Tát với tiêu chuẩn trượng phu Đại Việt đã tạo ra mẫu người Phật tử Việt Nam lý tưởng thời bấy giờ là :

“ Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm”

“Ngay thờ Chúa, Thảo thờ Cha, đi đỗ mới Trượng phu trung hiếu”

          Trên tinh thần đó Ngài đã thiết kế một mẫu người Việt Nam như đã nêu ở trên. Khi Ngài trao quyền cho Pháp Loa là Ngài trao một biểu tượng thiết kế độc đáo cho con người làm người là biểu tượng 20 cuốn kinh nội điển viết bằng máu và 100 cuốn kinh sách ngoại điển.

          Như vậy người tu sĩ hay bất cứ ai cũng phải lấy mẫu thiết kế ấy mà phấn đấu. Hai mươi cuốn kinh đại tạng viết bằng máu nghĩa là con người phải lấy Giới, Định, Tuệ làm gốc, làm mạng mạch cuộc sống của chính mình. Giới đây là Giới lòng là tư cách tác phong, tư cách làm người khác hẳn với bản năng sinh tồn do lòng tham muốn được thoả mãn với những ham muốn trần tục, tuệ đây là tuệ giác hay là tinh thần vô ngã, là tinh thần mình vì mọi người. Nắm lấy và phát huy Giới, Định, Tuệ một cách chánh pháp. Tức con đường đưa đến Ngũ Minh (Thánh Minh, Công Xảo Minh, Y Phương Minh, Nhân minh, Nội minh) và đây là căn bản tối quan trọng để xây dựng một mẫu người lý tưởng cho hạnh phúc của cuộc đời. Một khi mỗi một con người thực hành đúng nghĩa con đường này càng thấy vai trò của tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của Ngài Trần Nhân Tông là một sợi chỉ vòng xuyên suốt một cách sáng tạo, mới lạ con đường thực dụng hấp dẫn đối với con người học đạo và lãnh đạo. Con người ấy cần biết rằng “Tâm ý làm đầy các pháp” và thực hành sự biết đó là căn bản nhất trong các pháp. Tâm ý như thế nào thì các pháp sẽ như thế ấy.

          Về bản tâm ai cũng hiểu rằng mình có sẵn bản tâm vốn thanh tịnh, vốn là gốc của môn pháp, không cần phải đổ mồ hôi sôi nước mắt làm bất cứ việc gì để có được bản tâm ấy. Nó có sẵn rồi, mọi người chỉ việc dùng ý thức nhận ra nó, rồi dựa vào nó mà phát ra vô lượng tâm ý tuỳ thuận hoàn cảnh cộng đồng mà làm lợi lạc cho cộng đồng mình. Thế là xong.

          Thực ra Trần Nhân Tông không cần chờ đến tác động của thiền phái để được ngộ tâm pháp. Kinh nghiệm của các thiền phái hay kinh điển chỉ giúp cho Ngài về mặt ấn chứng để Ngài biết rằng Ngài đã đúng đắn trong việc khám phá bản tâm và sử dụng sự khám phá ấy. Không nên quan trọng hóa về nội dung và phương pháp tu dụng. Điều này chỉ nhằm giải quyết nhu cầu cho một bộ phận nhỏ giới tu sĩ chứ không thể giải quyết vấn đề trọng đại của toàn dân, của tổ quốc được.

          Điều vĩ đại của Đức Phật Thích Ca là sự khám phá Phật tánh ở mỗi chúng sanh và sự khám phá tánh không (sự trống rỗng) của thế giới đã tạo nên một động lực thúc đẩy sự thăng tiến thánh trí trong mỗi cá thể con người nói riêng và chúng sanh nói chung, điều không ít vĩ đại của Trần Nhân Tông đã biết khai thác kết quả sự khám phá của đức Phật vào thực tiễn bản thân mình để trở thành một người lãnh đạo tuyệt vời của dân tộc, góp phần rất to lớn có ý nghĩa lý luận và thực hành trong việc giữ nước và xây dựng đất nước .

          Từ những căn bản của tư tưởng và cuộc đời của mình, vua Phật Trần Nhân Tông đã để lại cho chúng ta một sự học vô vùng quý báu có giá trị vượt thời gian và chánh kiến bởi  lẽ tư tưởng và việc làm của Ngài là vì dân, vì nước, và quý hơn nữa nó vượt ra khỏi quan niệm hẹp hòi của bất cứ thiền phái nào và thậm chí vượt ra khỏi sự ràng buộc của tôn giáo .

                                                          DUY TUỆ