|
VUA PHẬT TRẦN NHÂN TÔNG |
|
Kính thưa chư vị Thiện Tri Thức!
Nhân dân Việt Nam đều biết Vua Trần Nhân Tông là
một vị Minh Vương, một vị Thánh
Vương và là người ứng dụng lời Phật dạy trong mọi hoàn
cảnh. Trong thời kỳ làm Thái Thượng Hoàng, trong tâm Ngài
luôn sống bằng hạnh của một vị xuất gia, được 6 năm
và sau cùng Ngài sống cuộc đời xuất gia hoàn toàn từ
trong tâm đến ngoại tướng.
Để minh chứng rằng Ngài đã sống phù hợp chánh pháp
của Phật từ lúc là Thái Tử đến khi tịch diệt, chúng tôi
xin trích các kinh Phật từ Kinh A - Hàm đến Kinh Đại Thừa;
đồng thời chúng tôi cũng trích một số nội dung trong ĐVSKTT,
Thánh Đăng Lục và những hành trạng của Ngài. Và cũng cho
thấy rằng Phật Pháp bất ly thế gian Pháp góp phần xây
dựng và phát triển, một quốc gia hoà bình, an ninh, thịnh
vượng, đoàn kết trong nhân dân, trong Triều đình và giữa
Triều đình với nhân dân. Cũng qua các trích dẫn ấy cho
thấy Ngài Trần Nhân Tông đã dùng bản lĩnh Việt Nam để
ứng dụng, hoàn chỉnh giáo lý Đức Phật, hoàn thành sứ
mệnh của mình đối với nhân dân, với tổ tông, với
Triều đình, với đất nước và các nước lân bang còn có
giá trị đến ngày nay và mai sau.
Trong kinh Phật dạy bảy điều làm cho một xã hội cường
thịnh là:
Một là hoà hợp trong dân chúng.
Hai là dân chúng đoàn kết
Ba là pháp luật nghiêm minh và có truyền thống dân
tộc
Bốn là dân chúng biết kính trọïng đạo đức,
biết kính trọng người lớn tuổi.
Năm là xã hội an ninh, không có các hiện tượng hà
hiếp, bắt cóc, cưỡng ép các thiếu nữ, phụ nữ.
Sáu là có tín ngưỡng và tôn trọng truyền thống tín
ngưỡng
Bảy là kính trọng và ủng hộ chư tăng (Kinh Tăng Chi
Bộ).
Và Phật cũng dạy mười nhiệm vụ của nhà vua là:
Thứ nhất, là sự rộng rãi bố trí, bác ái. Người
cai trị không được có một thèm
khát và bám víu nào đối với tài sản, tiền của mà
phải bố thí cho dân được no ấm.
Thứ hai, một đạo đức tốt đẹp, không sát hại,
lừa bịp, và bóc lột kẻ khác, tà dâm, nói lời sai quấy
và rượu chè. Tóm lại phải giữ gìn tối thiểu năm giới
luật phổ biến.
Thứ ba, hy sinh tất cả vì hạnh phúc của dân, vua
phải sẵn sàng từ bỏ tiện nghi cá nhân, tên tuổi danh
vọng và ngay cả sự sống của mình vì lợi ích
Thứ tư là trực hạnh. Phải xa lìa sợ hãi và thiên
vị khi thi hành nhiệm vụ, phải thành thật trong ý định và
không được lừa bịp quần chúng.
Thứ năm là khổ hạnh. Vua phải sống một đời
sống giản dị, không xa hoa, phải biết tự chế bản thân
mình.
Thứ sáu là nhu hoà. Vua phải có tính tình hoà nhã.
Thứ bảy là không thù hận, ác độc. Vua không có tư
thù với bất cứ ai.
Thứ tám là bất hại, không hãm hại ai, đề cao hoà
bình, ngăn chặn chiến tranh, tránh dính dáng đến bạo động
và sát hại sinh mạng.
Thứ chín là nhẫn nhục. Vua có thể chịu đựng
những khó khăn, khổ nhọc và những sự nhục mạ mà không
mất bình tĩnh.
Thứ mười là không đối lập, không ngăn cản, nghĩa
là không được đi ngược lại với ý chí của toàn dân,
không được cản bất cứ biện pháp nào đưa đến sự
lợi lộc cho toàn dân. Vua phải cai trị thuận với ý chí
của dân. (Kinh Bổn Sanh).
Trong kinh Chuyển Luân Thánh Vương Phật cũng dạy:
Một vị Chuyển Luân Thánh Vương hãy nương trên pháp,
an lập trên pháp,
thành tựu nơi pháp, cung kính tôn trọng, quán sát pháp,
lấy pháp làm đầu, thủ hộ chánh pháp; răn dạy các thế
nữ bằng pháp; chăm sóc, dạy dỗ các vương tử, đại
thần, các quan lại, trăm quan và thứ dân bằng pháp hộ trì,
chăm sóc các Sa-Môn, cho đến các cầm thú; tin người chân
tu, ngộ đạo, mà hỏi những việc thiện ác, những việc nên
làm, những việc không nên làm, giúp đỡ người nghèo khó,
cẩn thận trong việc sửa đổi luật cũ.
Chánh pháp ở đây là sống trên tinh thần vô ngã, có
chánh kiến, sống thiện, từ bỏ tham ái ở đời, hết lòng
phục vụ nhân sinh.
Chúng ta thấy những điều Phật chỉ ra ở trên thật
là lý tưởng, nhưng có thể nói, trên thế gian này có hai
bậc Đại Bồ Tát đã thực hiện gần như trọn vẹn lời
dạy của Đức Phật. Đó là vua A-Dục ở Aán Độ, một
vị vua đã ủng hộ đạo Phật rất mạnh mẽ. Ngài trị vì
nước Ấn Độ trước công nguyên khoảng 300 năm. Đạëc
biệt Ngài khuyên mọi người nên tu tại nhà hơn là xuất
gia và Ngài cũng rất quý trọng các tu sĩ xuất gia. Ngài đã
dự đoán được chiến tranh sẽ tàn phá đất nước, kinh sách
Phật sẽ bị đốt, nên Ngài đã cử người đi truyền đạo
Phật ra các quốc gia khác và đã gửi kinh sách ở Srilanka,
hiện vẫn còn tại viện bảo tàng Srilanka.
Người thứ hai là vua Trần NhânTông của nước Đại
Việt cách nay hơn 700 năm. Nước Đại Việt thời bấy giờ
là Quốc độ Phật. Từ Vương tôn Công tử đến thứ dân
hầu hết là Phật tử - Nơi nào có dân là nơi ấy có chùa.
Đi chùa học kinh là một trong những tư cách đạo đức
của người Việt thời bấy giờ. Chúng ta thấy được điều
đó qua sử sách và di sản văn hoá lưu truyền đến ngày
nay.
Vua Phật Trần Nhân Tông đã thực hiện trí tuệ và
đạo đức như thế nào:
Từ thời niên thiếu đến khi trực tiếp cai trị đất
nước, lúc làm Thái Thượng
Hoàng, đến khi xuất gia tu tại kinh thành và sau cùng là lên
hẳn núi Yên Tử để thực hành đời sống của một bậc
giác ngộ chánh pháp. Như Thánh Đăng Lục đã
ghi:
“Năm 16 tuổi được làm Hoàng Thái Tử, Ngài cố
từ chối mấy lần, xin cho
em mình thay thế đều không được vua cha chấp nhận. Thánh
Tông cưới trưởng tử của quốc mẫu Nguyên Từ tức Thái
Hậu Khâm Từ cho Ngài. Tuy sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc
mà tâm Ngài vẫn hướng về đường tu.
Một hôm, vào giữa đêm Ngài vượt thành trốn đi, định
vào núi Yên Tử (năm 16 tuổi). Đến chùa Tháp ở núi Đông
Cứu thì trời vừa sáng, trong người quá mỏi nhọc, Ngài vào
nằm nghỉ trong tháp. Vị tăng trong chùa thấy dáng mạo Ngài
khác thường, Ông làm cơm thiết đãi. Hôm ấy, Thái Hậu đem
trình bày hết cho Thánh Tông nghe. Vua liền sai quần thần đi
tìm khắp nơi, bất đắc dĩ Ngài phải trở về. Khi lên ngôi
(năm 21 tuổi) dù ở trong cảnh vinh hoa tột bậc, nhưng Ngài
vẫn tự giữ mình thanh tịnh. Có lần Ngài ngủ trưa trong
chùa Tư Phúc ở đại nội, chợt mộng thấy từ nơi rốn
mọc lên hoa sen vàng, lớn như bánh xe, trên hoa có Đức
Phật vàng, một người đứng bên cạnh chỉ Ngài nói:
"Biết Đức Phật này chăng? Đức Phật Biến
Chiếu đấy!", Ngài liền giật mình tỉnh dậy, đem điều
mộng trình lên vua cha. Thánh Tông mừng cho là việc khác thường.
Do đó, Ngài thường ăn chay, thân thể ốm gầy, Thánh
Tông thấy lạ bèn hỏi. Ngài thưa thật nguyên do với vua
cha. Thánh Tông khóc, bảo: "Ta nay già rồi, trông cậy
một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp tổ tông
sẽ ra sao?" Ngài nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước
mắt.
Bản chất Ngài rất thông minh và hiếu học, có
nhiều tài năng, xem hết các sách, thông cả nội điển
lẫn ngoại điển. Những lúc nhàn rỗi, Ngài thường mời các
thiền khách đến bàn hỏi về tâm tông. Ngài tham học với
Thượng Sỹ Tuệ Trung, đạt sâu tới chỗ thiền tuỷ và
thờ Thượng Sỹ làm thầy.
Không lâu Ngài nhường ngôi cho Anh Tông (36 tuổi) Ngài
đi thẳng vào núi Yên Tử (năm 42 tuổi) siêng năng chuyên lo
tu hành, sống theo mười hai hạng đầu đà, tự lấy hiệu
là HƯƠNG VÂN ĐẠI ĐẦU ĐÀ. Ngài lập chùa chiền cất
tịnh xá, thuyết pháp độ tăng, học chúng tụ về đông đảo.
Sau đó, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường đón
chư tăng về đây lập hội giảng pháp trải qua mấy năm.
Kế Ngài lại đi vân du thông thả, đến trại Bố Chính
lập am Tri kiến ở lại đây. (Trại Bố Chính nay ở Nghệ
An, thuộc Chiêm Thành xưa kia dâng cho Lý Thánh Tông).
Năm Ngài 47 tuổi (1304), Ngài đi khắp thôn xóm khuyến
hoá dân chúng từ bỏ dâm từ; đồng thời dạy họ tu hành
thập thiện. Mùa đông năm ấy, vua Anh Tông dâng biểu
thỉnh Ngài vào đại nội trao cho tâm giới bồ tát tại gia.
Hôm Điều ngự vào thành, vương công, bá quan chuẩn bị đầy
đủ lễ nghi nghinh đón và sau đó đồng thọ giới pháp.
Tháng giêng năm 1308 (Ngài 15 tuổi), Điều Ngự sai Pháp
Loa đến chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại nối pháp trụ trì,
giảng dạy. Tháng tư năm ấy Ngài đến kiết hạ tại chùa
Vĩnh Nghiêm, Lạng Giang, cũng sai Pháp Loa trụ trì, giảng
dạy và chính Ngài giảng Truyền Đăng Lục và quốc sư Đại
Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa.
Giải hạ, Ngài vào núi Yên Tử, không để những người
tịnh Nhân, người giúp việc trong chùa ở lại mà chỉ để
lại mười vị thị giả thường theo Ngài. Điều Ngự lên
ở am Tử Tiêu giảng truyền Đăng Lục cho Pháp Loa. Thị
giả lần lượt xuống núi, chỉ còn đệ tử thượng túc là
Bảo Sát ở lại.
Từ đó, Ngài vào các hang động, rồi về ngôi nơi
thất đá. Bảo Sát bạch: "Tôn
Đức tuổi đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy lỡ ra
có chuyện gì thì mạng mạch của Phật Pháp thế nào?"
Ngài đáp: "Thời giờ của ta đã đến, ta muốn tạo cái
kế lâu dài như vậy! ".
Ngày mùng 5 tháng 10, người nhà của công chúa Thiên
Thuỵ lên núi thưa: Công chúa bệnh nặng mong gặp Tôn Đức
rồi chết. Điều ngự bùi ngùi bảo: "Thời tiết đến
rồi! " Ngài bèn chống gậy xuống núi, chỉ đem theo
một thị giả. Ngày mùng 10 đến kinh đô, qua ngày rằm, Ngài
dặn dò xong, liền trở về núi, nghỉ đêm ở chùa Siêu
Loại. Sáng sớm hôm sau, Ngài đi bộ đến ngôi chùa nhỏ
ở làng Cổ Châu, đề bài kệ:
Số đời một hơi thở
Lòng người hai biển bạc
Cung ma cai quản ngặt
Cõi Phật vui khôn ngần.
Ngày 17, Ngài nghĩ lại chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn,
Hoàng Thái Hậu Tuyên Từ thỉnh đến am Bình Dương thiết
trai, cúng dường. Điều Ngự vui vẻ bảo: "Đây là
lần cúng dường cuối cùng".
Ngày 18, Ngài đi bộ đến chùa Tú Lâm, trên ngọn An
sinh Kỳ Đặc cảm thấy đau đầu, Ngài nói với hai Tỳ
Kheo Tử Doanh và Hoàng Trung: "Ta muốn lên ngọn Ngoạ Vân
mà sức không thể đi được, biết làm sao đây? " Hai
Tỳ Kheo thưa: Hai đệ tử giúp cho thầy lên đó! Vừa lên
tới ngọn Ngoạ Vân, Điều Ngự tạ ơn hai Tỳ Kheo và bảo:
Hãy xuống núi gắng lo tu hành, chớ cho sinh tử là việc nhàn
rỗi!
Ngày 19, Điều Ngự sai thị giả Pháp Không lên am Tử
Tiêu, núi Yên Tử gọi Bảo Sát xuống gấp.
Ngày 21, Bảo Sát đến Ngoạ Vân, Điều Ngự trông
thấy mỉm cười bảo: "Ta
sắp đi đây, ngươi đến sao trễ vậy! Ngươi đối với
Phật Pháp có chỗ nào chưa rõ, hãy mau thưa hỏi! "
Ngày 1 tháng 11, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều
Ngự hỏi:
Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý
Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa nhìn ra bảo: Chính là
giờ ta đi! Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điều Ngự đáp:
Tất cả pháp chẳng sanh,
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế,
Chi Phật thường hiện tiền
Nào có đến đi gì? "
Bảo Sát liền hỏi: "Nếu không sanh không diệt thì
thế nào?" Thượng Hoàng bỗng nhiên lấy tay che miệng
Bảo Sát và nói "Đừng nói mớ".
Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch.
Đại Việt sử ký Toàn Thư nói về Ngài như sau:
"Tên huý là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ
là Nguyên Thánh Thiên
Cảm Hoàng Thái Hậu, sinh năm Mậu Ngọ Nguyên Phong, năm
thứ 8, tháng 11 ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần tuý
đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chế hoàn hảo, thần khí
tươi sáng. Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Đồng
Tử. Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng
đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm,
xuất gia 8 năm thọ 51 tuổi. Băng ở am Ngoạ Vân núi Yên
Tử, đưa về táng ở Đức Lăng. Vua nhân từ hoà nhã, cố
kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước,
thật là bậc vua hiền của nhà Trần".
Qua các nội dung trên, chúng ta thấy Ngài là một vị
Minh Vương khi làm vua, là Thánh Vương khi làm Thái Thượng
Hoàng và là một vị Phật khi lên núi Yên Tử thực hành 12
hạnh đầu đà.
Khi ấy đất nước, nhân dân và cá nhân Ngài là một.
Đây là điểm hết sức đặc biệt của Ngài.
Con người Việt Nam đầy lý tưởng ấy đã thực
hiện trí tuệ và đạo đức như
thế nào?
Trước nhất đối với bản thân Ngài. Chúng ta thấy
rất rõ rằng Ngài đã
thể hiện ý thức, tư tưởng, ý chí và hành động trong
việc tinh cần học tập và
ly dục là con đường đưa đến hạnh phúc cho chính Ngài và
ảnh hưởng tốt đẹp trực tiếp cho đất nước và nhân
dân.
Ông Nội và Cha của Ngài đều là những người
chứng đạt được tâm vô lậu, chứng đạt thánh trí hay
tuệ giải thoát mà đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã chứng đạt.
Thánh trí đó là gì? Đó là bốn chân lý Khổ, Tập, Diệt,
Đạo. Trong đó, Ngài cũng chứng thực rằng nguồn gốc
của mọi khổ đau là lòng tham ái, sự sâu hận và ngu si.
Những con đường để giải quyết tận gốc nguyên nhân gây
ra khổ đau là thực hành bát Thánh Đạo: chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh mạng,
chánh niệm và chánh định. Muốn thực hiện được những
vấn đề trên thì phải nỗ
lực học tập và ứng dụng nội điển, quay cái nhìn vào
thế giới tâm của mình, như Ngài đã tự thuật trong bài
"Hành trạng của Thượng Sỹ Tuệ Trung" rằng:
"Một ngày kia, ta hỏi Người về cái gốc của tôn
chỉ Thiền, Thượng Sỹ ứng khẩu đáp: "Hãy quay nhìn
lại cái gốc của mình chứ không tìm đâu khác được".
"Ta bỗng bừng tỉnh con đường phải đi, bèn xốc áo
thờ người làm Thầy".
Như vậy, Ngài quyết tâm học tập nội điển, khám
phá những điều Đức Phật đã khám phá, để tự mình
chứng đạt và ứng dụng, đạt đến thánh trí, quyết tâm
ly dục, đạt cứu cánh hạnh phúc tại cuộc đời này. Đạt
thánh trí để làm gì? Với cương vị là Vua, Ngài phải ra
sức hoàn thành bổn phận của mình đối với Tổ Tông, đối
với dân, với nước, nên Ngài ra sức học tập nội điển
và ngoại điển để đem thánh trí, trí tuệ thiện xảo và
lòng từ bi cũng như sự dũng cảm mà lo cho dân, cho nước.
Thứ hai đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ:
Ngài một lòng thờ phụng, giữ gìn truyền thống đạo
đức và kỷ cương trị nước
của ông cha. Khi cha Ngài sắp mất, Ngài đứng bên cạnh
một mình đã biết sử dụng chánh pháp để giúp cha được
cái chết thanh thản, tâm hồn định tĩnh, hoà vào ánh sáng
trí tuệ vô thượng, hay còn gọi là hoà vào vô lượng
quang A-Di-Đà, như trong thánh Đăng Lục đã ghi:
"Rồi vua đuổi kết kẻ hầu hạ, chỉ còn Nhân Tông
đứng hầu một bên "Thưa, bệ hạ còn nhớ lời của
Ngài Vĩnh Gia Chăng?"
"Rành rành thấy không một vật,
Cũng không người, chừ cũng không Phật
Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả thánh hiền như điện chớp
Dẫu cho vòng sắt trên đầu chuyển,
Định tuệ sáng tròn vẫn không mất.
Đây là hình ảnh Ngài đã đóng vai Phật A-Di-Đà đứng
bên cạnh vua cha mà tiếp dẫn thần thức vào cõi định
tuệ sáng tròn vẫn không mất, thật là tuyệt diệu! Rất
phù hợp với sự khẳng định thế giới Cực lạc Di - Đà
của Ngài trong Cư Trần Lạc Đạo rằng: “Di Đà là tính sáng
soi, mựa phải nhọc tìm về cực lạc". Sau này khi về
phủ Thiên Trường nơi có nhiều kỷ niệm của vua cha, Ngài
đã thổ lộ tình hiếu tử qua hai câu thơ:
"Phổ Minh phong cảnh y như cũ
Phảng phất tình cha mộng thấy nhiều".
Thứ ba, đối với con:
Ngài ân cần, nghiêm khắc dạy dỗ con đường thánh
đạo cho một bậc Thánh Vương (hay còn
gọi là Thánh Vương chánh pháp) là phải thực hành năm
giới: không giết hại, lừa bịp và bóc lột kẻ khác; không
tà dâm, không nói lời sai quấy; không rượu chè; không
phung phí tiền của, của nhân dân và
Trong Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu có đoạn ghi về
việc Ngài trở về kinh các quan đều không hay biết, vua Anh
Tông uống rượu say và Ngài rất giận, triệu tập các quan
răn dạy, còn vua Anh Tông phải nhờ Đoàn Nhữ Hài dâng
biểu tạ tội. Thấy lời lẽ trong tờ biểu rất khẩn
thiết, Ngài cho gọi vua đến dự rằng: "Chả lẽ trầm
không còn con khác có thể nối ngôi hay sao? Trẫm vẫn sống
đây mà còn như thế, thì sau này sẽ như thế nào! ".
Vua dập đầu tạ tội.
Lại một lần khác, Ngài xem sổ triều đình thấy vua
Anh Tông ban chức tước hơi nhiều, bèn ghi lên đầu rằng:
"Một nước nhỏ bằng bàn tay sao lại có nhiều quan như
thế này. Từ đó, vua Anh Tông thận trọng không khinh suất
trao chức tước nữa.
Ngài còn làm lễ thọ bồ tát tâm giới cho vua Anh Tông
tu hạnh bồ tát tại gia, theo mẫu người Bồ Tát Việt Nam
thời ấy (tức theo yêu cầu, nhiệm vụ của quốc gia dân
tộc) như sau:
Sạch giới lòng, dồi giới tướng
Nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Đối với thầy dạy đạo:
Ngài nhận Tuệ Trung Thượng Sỹ làm thầy để thờ,
vì Tuệ Trung Thượng Sỹ đã
chỉ cho Ngài con đường tu thẳng tắt là: "Hãy quay nhìn
lại cái gốc của mình chứ không tìm đâu khác được".
Đối với tướng lãnh và quan lại:
Được thể hiện trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm
1285 và sau khi đại thắng quân Nguyên năm 1288. Đặc biệt
khi được cấp báo về tình hình chiến sự Nội Bàng, Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Lúc ấy vua ngự chiếc thuyền
nhẹ sang lộ Hải Đông. Ngày đã gần chiều, Vua chưa ăn cơm
sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem dân cơm gạo xấu. Vua
khen là trung, ban cho tước thượng phẩm, kiêm chức tiểu thư
xã xã hữu triều môn ở Bạch Đằng”.
Như vậy, Ngài luôn sát cánh với các tướng lãnh
trực tiếp chỉ huy mặt trận. Ngài và các tướng lãnh là
một.
Còn như trường hợp Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
phá giặc có công, được phong phiêu kỵ Đại Tướng Quân,
rồi đến Tử Phục Thượng Vị Hầu. Sau thông dâm với Thiên
Thuỵ công chúa (con gái Thánh Tông, chị ruột Trần Nhân Tông
đã gả cho Hưng Vũ Vương Nghiễm là con trai của Quốc Tấn)
nên bị mất chức, tịch thu tài sản. Khánh Dư lui về ở
Chí Linh làm nghề bán than. Khi ấy, Khánh Dư đi thuyền đến
Bình Than. Vua sai nội thị đi gọi. Tới nơi, Khánh Dư mặc
áo ngắn đội nón lá yết kiến vua. Vua nói: “Không ngờ
nam nhi mà sa cơ đến nông nổi này”. Rồi xuống chiếu
miễn tội. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự,
cho ngồi dưới hàng các vương. Khi bàn việc đều hợp ý
vua, nên vua phong chức ấy.
Sau chiến thắng quân Nguyên năm 1288 Ngài đã khen thưởng
rất xứng đáng cho các tướng lĩnh như Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư đã ghi.
Còn đối với những người nộp biểu hàng giặc
trong lúc giặc đang ở thế mạnh vào cướp thì cũng để
cho họ sống yên bằng cách cho đốt các hòm đựng biểu hàng
giặc. Riêng những trường hợp hàng giặc trước đó đều
phải bị xử nặng, kể cả trường hợp vắng mặt như ĐVSKTT
ghi. Ngài cũng đã thọ bồ tát tâm giới cho tất cả quan lại triều đình.
Đối với nhân dân:
Một lòng thương yêu như thương con đỏ. Chăm sóc và
giúp đỡ về vật chất, tinh thần và đạo đức như ĐVSKTT
ghi: “Mùa xuân tháng giêng, ngày 15, Thượng Hoàng ở phủ
Thiên Trường, mở hội vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh,
bố thí vàng, bạc, tiền, lụa để chẩn cấp dân nghèo
trong nước và giảng kinh giới thí”.
Ngài còn dạy dân sống theo chánh pháp như trong Tâm
Tổ Thực Lục ghi: “Năm 1304, Điều Ngự đi khắp xóm làng
dạy dân chúng phá bỏ các dâm từ và thực hành thập
thiện”. Thập thiện là mười điều Phật dạy cho chúng
sanh thực hành để được sống yên vui, hạnh phúc và hoà
hợp. Phá bỏ dâm từ là phá bỏ các miếu thờ, mang tính mê
tín dị đoan. |