ĐẠO SƯ DUY TUỆ |
||
|
Buổi gặp gỡ với Đạo tràng Pháp Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay cũng là dịp đáng ghi nhớ. Mở đầu có một sự việc khá hay là bị cúp điện, điều này có nghĩa là Chư Thiên nhắc nhở chúng ta nếu muốn nghe về Phật thì phải im lặng, không được ồn ào, tâm không xáo động, không nghĩ ngợi gì đến những chuyện ngoài đời, như vậy mới thấu hiểu cặn kẽ lời Phật dạy. Còn nếu cứ lăng xăng thì không thể nghe và hiểu rõ được.
Phật là sự yên lặng và sự mầu nhiệm chứ không phải là điều gì khác. Cho nên ngay trong phẩm Tự, phẩm đầu của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật nhập vô lượng nghĩa xứ định, sau đó hào quang phóng ra từ lông trắng giữa chân mày của Ngài và chiếu sáng khắp cả thế giới Phương Đông, ý muốn diễn tả rằng sự im lặng là mầu nhiệm. Im lặng ở đây có nghĩa là không suy nghĩ, không tưởng tượng, không lo lắng, không ước mong điều gì và trạng thái tâm hoàn toàn trống rỗng. Ngay phẩm Tự mở đầu của kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã nhắc nhở chúng ta như thế, nhằm nhấn mạnh rằng càng suy nghĩ và tưởng tượng nhiều thì sẽ càng rối. Ngược lại khi tâm ta thanh tịnh thường phát sinh trí tuệ nhiệm mầu.
Tất cả quý vị có mặt ở đây chắc hẳn từng có cơ hội suy nghĩ suốt mấy chục năm qua, ít nhất cũng đã suy nghĩ hơn 30 năm rồi. Thế nhưng có ai nghĩ được điều gì đáng giá không? Giờ đây hãy làm một cuộc tổng kết xem thử sau mấy chục năm toan tính nghĩ ngợi quá nhiều, rốt cuộc ta được những gì? Chẳng qua chúng ta có được chút đỉnh gì đó, hết buồn tới vui, vui rồi buồn, buồn vui vui buồn mà tính lại thì hầu như buồn nhiều hơn vui: đó chính là kết quả sau bao nhiêu năm suy tính của chúng ta!
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ngay từ phẩm mở đầu Đức Phật khép mắt, rồi hào quang phóng ra, chiếu sáng các cõi ở Phương Đông, hết thảy đại chúng đều thấy tất cả những cảnh giới nhiều phương xa xôi, nhìn thấy rõ mọi sinh hoạt ở các cõi Phương Đông. Nhưng nếu Đức Phật không khép mắt, không ngồi im thì hào quang không phóng ra. Mà hào quang không phóng ra thì không chiếu được đến các cõi Phương Đông, tức là không nhìn thấy các cõi khác và hội chúng sẽ không thấy được cảnh giới ở các cõi khác. Như vậy quý vị thấy rằng từ đầu cho đến cuối kinh, quan trọng nhất chính là lúc Đức Phật ngồi khép mắt nhập vô lượng nghĩa xứ định.
Vậy vô lượng nghĩa xứ định là gì? Xứ nghĩa là cảnh giới, định là trạng thái tâm vắng lặng , còn vô lượng nghĩa cũng gần như không có nghĩa gì, tức là đầu óc trong suốt trống rỗng, không chấp vào bất cứ ý niệm gì. Vô lượng nghĩa xứ định là một cảnh giới tâm trống rỗng trong suốt, nó có một công đức, công năng không thể nghĩ bàn. Cho nên chỉ khi nào chúng ta chịu đầu hàng sự suy nghĩ thì sau đó chúng ta mới hưởng được phước đức. Điều này mới nghe có vẻ nghịch lý, nhưng nếu quý vị hồi tưởng lại cuộc đời mình sẽ thấy đúng là có những lần mình suy tính rất nhiều mà vẫn không giải quyết được vấn đề, quý vị đành đầu hàng không suy nghĩ nữa thì tự nhiên cảm thấy trong lòng rất nhẹ nhõm. Lúc quý vị nhận thấy rằng những suy nghĩ của mình không có tác dụng nên thôi không suy nghĩ nữa thì liền có được cảm giác dễ chịu vô cùng và sau đó một sự tình cờ sẽ giúp quý vị giải quyết êm đẹp mọi chuyện. Đó là tánh Phật của mình dàn xếp thay cho sự suy tính của đầu óc. Suy nghĩ của đầu óc không sao biết được tánh Phật làm thế nào mà giải quyết mọi khó khăn một cách nhiệm mầu như thế? Chính Đức Phật đã khám phá tánh Phật và giá trị của nó để chỉ chúng sanh sử dụng vượt qua khổ đau.
Hôm nay chúng tôi không đề cập đến kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ phẩm đầu đến phẩm cuối mà chỉ giới thiệu phần chính yếu để khi tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì quý vị biết nên tụng như thế nào. Nếu đơn giản muốn nghe lời kinh, tôi chỉ cần mua một con nhồng đem về nhờ người dạy nó tụng là được rồi. Con nhồng tuy không thể nói được nhiều, nhưng nó có thể nói được vài chữ như “Mô Phật, Mô Phật”, hoặc “Liên Hoa, Liên Hoa, Liên Hoa”, “Diệu Pháp, Diệu Pháp, Diệu Pháp”, và cả “Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp Liên Hoa”. Tất cả những chữ đó chắc chắn nó đều nói được. Cho nên nếu không có ý thức trong khi tụng niệm hàng ngày thì chúng ta sẽ chẳng khác gì con nhồng hay con két.
Quý vị thử nghĩ xem nếu con nhồng cứ liên tục tụng niệm câu “Diệu Pháp Liên Hoa” ngày này qua ngày khác, liệu sẽ có được sự mầu nhiệm gì không? May lắm chỉ được người ta khen là con nhồng biết nói tiếng người. Mà ngay cả bản thân con nhồng cũng không hề ý thức được việc nó biết nói, do đó nó cũng không thưởng thức được lời khen. Hay dù có được thưởng vàng thưởng bạc đi nữa thì cũng chẳng có giá trị gì đối với con nhồng.
Cho nên khi muốn tụng kinh trước hết ta phải tìm đến ông thầy để hỏi xem tụng để làm gì? Con người có được sự hiểu biết, do đó chúng ta phải suy nghĩ xem điều mình định làm có hợp lý không? Nếu nói rằng tụng kinh để được phước thì quý vị hãy thử tập cho con nhồng tụng kinh xem nó có được phước hay không? Thật ra việc tụng kinh cũng có đem lại phước đức chứ chẳng phải không, vì trong lúc tụng kinh tạm thời ta có thể giữ được sự bình an trong tâm. Chẳng hạn như trong nhà đang lúc ồn ào, người này tranh cãi với người kia khiến mình nhức đầu chịu không nổi, thôi thì bỏ đi tụng một hồi kinh cho yên. Làm như thế rõ ràng có yên ổn được trong chốc lát, nhưng cũng chưa chắc là hoàn toàn yên tâm. Có khi trong lòng vẫn còn băn khoăn thấp thỏm không biết liệu rồi đây người nhà có gây rắc rối điều gì nữa hay không? Vậy điều lợi duy nhất là trong lúc tụng kinh là tạm thời ta bớt suy nghĩ đến chuyện khác. Nhưng chỉ giảm bớt thôi chứ chẳng phải là không suy nghĩ, vì thông thường ít có ai tụng kinh mà gác bỏ được hết toàn bộ mọi suy nghĩ trong đầu. Và khi vừa tụng kinh xong lập tức mọi ý nghĩ ùa tới tràn ngập tâm ta ngay, không có cách gì xua đi được. Quả thật không biết những suy nghĩ ấy ẩn núp ở đâu mà cứ chực chờ hễ ta sơ hở một chút là đổ ập vào, khi ấy tự nhiên chúng ta thấy bứt rứt khó chịu, đi tới đi lui, ăn ngủ không yên, bị nó hành hạ đủ kiểu. Nhưng nếu bảo rằng hãy dừng lại không suy nghĩ nữa không sao có thể dừng được.
Người ta thường giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa là khai thị ngộ nhập tri kiến Phật, do trong đó có câu Đức Phật nói rằng vì một đại sự nhân duyên mà Ngài ra đời để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Thế là từ xưa đến nay, người trước rồi đến người sau cứ thay nhau lập lại câu này. Những chữ khai-thị-ngộ-nhập-Phật-tri-kiến cứ được lập đi lập lại suốt mấy ngàn năm nay, và nếu tình cờ có vị nào thường đọc kinh này mà được thăng chức thì mọi người cho rằng chính nhờ đọc kinh mà ông ta được phước. Trong khi thật ra việc lên chức là do nhiều nhân duyên đưa tới, cũng giống như đến hồi có tiền cho dù mình không muốn nó cũng tự đến, khi hết thời rồi thì tiền bạc tự đội nón ra đi, mình có muốn giữ nó cũng cứ đi. Giờ đây quý vị tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà thật ra không chừng quý vị đã tụng từ mấy ngàn năm trước, từ bao nhiêu kiếp rồi chứ chẳng phải mới tụng kiếp này thôi đâu.
Con người khác với mọi loài chúng sanh là có bộ óc để suy nghĩ, do đó mỗi khi làm gì chúng ta phải cân nhắc xem việc làm ấy nhằm vào mục đích gì, để từ đó tìm ra giải pháp. Ngoài ra cũng do không chịu xem xét kỹ ý nghĩa việc làm nên đôi khi chúng ta làm càn, không chịu sắp xếp mọi thứ cho khoa học và hợp lý. Ví dụ đáng lẽ trước khi đến chùa tụng kinh phải chu toàn việc gia đình rồi mới đi, đằng này cứ bỏ bừa mà đi nên bị chồng con gây rắc rối, sau đó lại đổ thừa do tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà đổ nghiệp.
Phật nói nghiệp cũng nhằm an ủi chúng sanh trong lúc đang khổ, chứ thật ra nếu tĩnh tâm suy xét ta sẽ thấy rõ mọi sai lầm dẫn đến đau khổ là do chúng ta thiếu hiểu biết, không đủ khả năng giải quyết công việc mà lại tham lam làm càn nên phải gánh hậu quả không hay rồi đổ thừa cho nghiệp. Do đó nếu học Phật mà cứ nói chuyện nghiệp hoài thì sẽ không bao giờ tiến bộ.
Chúng ta sinh ra trên cõi đời này đã là một sự bất ngờ. Việc cha mẹ tạo ra chúng ta có thể là do ý muốn, nhưng cũng có khi chỉ là một sự tình cờ chứ chưa chắc gì hai người đã muốn cho ta có mặt trên đời. Một khi đã lỡ có mặt trên đời rồi thì coi như chúng ta hoàn toàn bị động, do đó ta phải tìm cách sao cho từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, có như vậy việc làm người mới quý.
Việc học Phật cũng nhằm vào mục đích ấy, nhằm giúp chúng ta làm chủ những nhân duyên đang diễn ra và ứng xử với các nhân duyên ấy cho thật phù hợp với lẽ Đạo. Trước đây chúng tôi đã có lần trình bày vấn đề này ở đây cho một số quý vị nghe qua và hôm nay xin được nhắc lại.
Từ bao nhiêu năm nay, người ta đã đề cập đến kinh Diệu Pháp Liên Hoa với đủ cách định nghĩa và bàn luận nhiều về nó, nhưng đại loại có thể tóm lược như sau: đây là một kinh mà Chư Phật muốn chỉ cho tất cả mọi người biết rằng chúng ta có một cõi tâm, một thế giới tâm, một trạng thái tâm hết sức căn bản gọi là tâm mẹ mà trong kinh gọi là tri kiến Phật. Cõi tâm này đặc biệt ở chỗ nó làm cho tất cả mọi chuyện trên đời trở nên hoàn chỉnh, mọi việc tự nó sắp xếp thật hoàn chỉnh. Cõi tâm này nếu ai thấy được nó, ai hiểu được nó và ai sống phù hợp với nó thì không cần phải làm điều gì trên đời này nữa cả. Chấm hết. Đây là chuyện hoàn toàn nghiêm chỉnh: thật sự không cần phải làm điều gì nữa cả, tựa như không còn mục đích gì để theo đuổi, không còn nhu cầu nào trong cuộc sống. Hễ ai thấy được, hiểu được và sống được với nó thì quả thật là muốn gì được nấy. Còn nếu không ao ước điều gì thì có thể sống một cuộc đời hết sức an nhiên tự tại. Kinh này cũng khẳng định rằng ai cũng là Phật cả, nhưng không phải Phật Thích Ca, bây giờ chỉ cần mọi người nhận ra thôi.
Xưa nay chúng ta cứ tính toán mãi nhưng rồi chuyện nọ trật với chuyện kia, làm cái này thì hư cái khác, mọi thứ cứ trục trặc khiến ta khổ não hoài, chỉ vì cõi tâm Phật của chúng ta bị che mờ mà không bật sáng ra hoàn toàn được. Thế là chúng ta cứ sống trong đau khổ, buồn phiền và luôn phải đối phó. Cho nên Đức Phật muốn giới thiệu, muốn chỉ cho tất cả mọi người hiểu được vấn đề chính yếu như đã nói ở trên mà trong kinh gọi là nhứt thừa, hay còn gọi là thượng thừa. Ngoài ra những điều xưa nay Đức Phật thường rao giảng chỉ là tạm thời cốt để cho mọi người yên tâm chứ chưa phải là cái cốt lõi. Đó là theo như trong kinh Phật đã nói.
Thế thì nhứt thừa ý muốn nói đến điều gì? Đó chính là cõi tâm vô nhiễm duy nhất, một khi ta đã cảm nhận được thì cõi này sẽ tự mở ra, bừng nở ra như một hoa sen - không chỉ có một số cánh mà có đến vô lượng cánh - ngày càng lớn lên, lớn mãi tựa như hư không, thậm chí lớn hơn cả hư không. Diệu pháp là nhằm chỉ cái cõi tâm đặc biệt và vô nhiễm mà linh hoạt nhiệm mầu nầy. Do quá kỳ diệu nên được gọi là Diệu pháp vì tự nó sản sinh ra muôn thứ, chúng ta cần gì hay ao ước gì thì sẽ có điều đó.
Một khi đã đạt đến sự bừng nở này rồi ta sẽ cảm nhận mình không còn là mình nữa, không biết ta là ai, thuộc dòng họ nào, tuổi tác bao nhiêu? Tất cả những cái mà dòng họ, ông bà đặt để, hay hình tướng cha mẹ tạo cho ta chẳng qua chỉ là cái xác, chỉ có giá trị là cái túi mang cõi tâm vĩ đại kia, để truyền tải cái vĩ đại ấy ra sáu căn. Hễ ai mở được cõi tâm này ra thì vượt khỏi mọi cái nhìn phân biệt mà thường có cái nhìn bình đẵng. Người da đen cũng giống như da trắng, người Kinh cũng giống như người Thượng, người tật nguyền cũng giống như người lành lặn, nam cũng giống như nữ đều bình đẵng ngay bên trong nội tâm. Mà có được cái nhìn bình đẵng trước tất cả các hiện tượng và sự việc thì tam ta thường sáng suốt, tình thong yêu thường phát sanh và dâng lên, tuông trào ra mãi va tình thương ấy thường cho những trí tuệ siêu việt. Và điều đặc biệt hạnh phúc là ta thường tự thấy nay đủ trong cuộc sống và dẫn đến an lạc.
Do đó, Diệu Pháp Liên Hoa có ý nghĩa là cõi tâm này rất kỳ diệu, nó làm cho con người tự cảm thấy hạnh phúc, đầy đủ, không thiếu thốn điều gì. Và hoa sen được dùng làm hình ảnh tượng trưng cho cõi này. Liên Hoa - nghĩa là hoa sen ngàn cánh - chính là một hình ảnh đẹp, không bị ô nhiễm hay bị chi phối bởi môi trường chung quanh và có đặc tính nhân quả đồng thời, hoa sen lại trưởng thành trong bùn, có nghĩa là cái Diệu Tâm ấy ở ngay trong sự đau khổ, ngay trong vô thường, ngay trong tham dục chứ không thể ở ngoài mà có được, nếu có cũng không giá trị. Mà ngay cả hoa sen cũng chỉ là một ẩn dụ tạm thời chứ cũng không hẳn đã đủ khả năng tượng trưng cho cõi này, vì thật ra không có hình ảnh nào tương xứng để diễn tả cõi ấy. Như vậy tên kinh chính là để nhắc nhở chúng ta hiểu được nội dung của kinh và biết rằng ta sẵn có cõi tâm gọi là Diệu Pháp Liên Hoa ấy. Tên kinh nhắc ta rằng trong cõi đời đau khổ nay, cái Diệu Tâm ấy sẽ tồn tại và phát triển vô ngại tự tại. Và chỉ trong khổ đau mới nhận ra nó mà thôi. Gạo muốn trắng thì phải được giã trong cối.
Thế nhưng để hiểu được trạng thái này, để chứng ngộ được trạng thái này, để sử dụng được trạng thái này và để sống hạnh phúc như Đức Phật mong muốn chúng sanh đạt thì chúng ta cần phải hiểu rõ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hiểu ý nghĩa và phải thực hành trong đời sống mỗi ngày.
Có mấy điểm chúng ta cần nắm vững. Thứ nhất phải biết rằng chúng ta có thân vật lý tức sắc uẩn, thứ hai là bên cạnh sắc uẩn ấy có phần tinh thần. Trong tinh thần của chúng ta lại tạm chia hai phần, một phần là tinh thần thuần khiết còn phần khác là tinh thần thô. Chúng ta tạm gọi tinh thần thuần khiết là tánh biết hay sự nhận biết thuần khiết của tâm, hay còn gọi là bản chất của tâm. Phần hai của tinh thần là phần thô, bao gồm lý trí, đời sống tâm lý, những tri thức, các khái niệm mà chúng ta học được, thu nhận được trong cuộc sống này hay tích lũy từ những cuộc đời khác trong quá khứ. Tuy không biết nó nằm ở chỗ nào nhưng hễ mỗi khi ta nghĩ đến, nhớ đến thì nó xuất hiện. Chẳng hạn như khi đề cập đến người nữ thì hầu như ai cũng thường nhắc đến những đặc điểm như dịu dàng, nhỏ nhẹ, tế nhị, kín đáo. Còn người Thiên Chúa giáo thì thường hay đề cập đến Thượng Đế, đến Chúa Trời, Đức Mẹ hoặc nói đến những phúc lành. Các Phật tử thì hay nhắc đến Đức Phật, chư vị Bồ Tát, ngũ giới ………, cùng một loạt các sự việc khác mà mọi người đã được học hỏi, hiểu biết và đã trải qua. Những tri thức ấy tạo thành một kho tàng mà chúng tôi tạm gọi là phần tinh thần thô. Bây giờ nếu chúng ta bỏ tinh thần thô này đi, bỏ những suy nghĩ, những ý tưởng, ý nghĩ nằm trong kho tàng của tinh thần thô này đi thì rõ ràng trong tâm chúng ta chỉ còn lại phần tinh thần thuần khiết hay cái tâm thuần khiết.
Nếu một người theo Thiên Chúa giáo bỏ hết tri thức vàđịnh kiến tôn giáo của mình, chỉ còn lại tâm thuần khiết thì cái tâm thuần khiết ấy không thể gọi là tâm Thiên Chúa giáo được. Cũng vậy, một Phật tử nếu bỏ hết cái tâm thô, bỏ những tri thức về giáo lý, chỉ còn lại cái tâm thuần khiết thì không thể gọi đó là tâm Phật giáo hay người theo Phật giáo nữa. Hễ bỏ đời sống tâm lý thô đi, chỉ còn lại cái tâm thuần khiết thì không thể định danh cái tâm ấy là gì cả, con người đó không thể gọi là người gì được. Sở dĩ chúng ta có thể định danh bởi vì bên trong họ có chứa một bầu kiến thức, bầu kiến thức ấy trở thành đặc điểm của người đó nên ta mới có thể định danh.
Tóm lại quý vị hãy ghi nhớ tinh thần con người có hai phần, phần thô và phần hết sức thuần khiết. Còn khi học kinh Diệu Pháp Liên Hoa chúng ta nhớ con người có ba điểm, một là thân vật lý, hai là tinh thần thuần khiết và ba là tinh thần thô (bao gồm tri thức, tư tưởng hay là một kho tàng do suy nghĩ của chúng ta tạo nên qua quá trình học tập và tiếp xúc) để hiểu rằng kinh dùng chữ Diệu Pháp là muốn chỉ sự quý báu của tinh thần thuần khiết.
Khi Đức Phật nhập vào vô lượng nghĩa xứ định tức là Ngài đã đưa toàn bộ nhận thức của mình chìm đắm trong cõi tinh thần thuần khiết. Và như vậy toàn bộ khối nhận thức, ý nghĩ của Đức Phật lúc bấy giờ tan hết vô trong tinh thần thuần khiết. Do đó tâm Đức Phật cũng trở thành hoàn toàn thuần khiết, trạng thái đó chính là vô lượng nghĩa xứ định. Nếu ta nhận ra được điều ấy thì cũng có nghĩa là đạt đến tri kiến Phật. Tri là biết, kiến là thấy, Phật là sáng trong thuần khiết. Tri Kiến Phật là sự thấy biết hết sức thuần khiết, ấy chính là bản chất tâm. Một trạng thái tâm hoàn toàn thuần khiết, rỗng không, trong đó không có ý tưởng, được gọi là Phật tri kiến và điều đáng lưu ý là chúng ta ai cũng có sẵn. Đây cũng chính là điều quan trọng nhất mà Phật muốn chỉ cho tất cả chúng sanh biết được.
Như vậy chúng ta có được kinh Pháp Hoa chính là có cái tâm thuần khiết và chúng ta cần nghĩ hoài về sự thuần khiết. Chúng ta cũng phải lưu ý sự thuần khiết không có nghĩa là không nghĩ ác. Dù cho nghĩ thiện cũng là không thuần khiết, chứ không phải nghĩ ác mới là tâm không thuần khiết. Hễ có ý nghĩ thì đã là không thuần khiết. Do đó không thể nói rằng: “Tâm tôi thuần khiết lắm vì tôi nghĩ toàn chuyện tốt”, không phải như vậy, nghĩ chuyện tốt cũng là không thuần khiết. Vì vậy một cái tâm có ý nghĩ là cái tâm không thuần khiết.
Khi trì kinh Pháp Hoa chúng ta cố gắng làm sao hướng toàn bộ ý nghĩ về cõi thuần khiết đó, suy nghĩ hoài hoài thì sẽ đến lúc nó lộ ra hết sức bất ngờ. Đó chính là ý nghĩa của trì kinh Pháp Hoa. Do đó trì kinh Pháp Hoa không có nghĩa là “tụng kinh” Pháp Hoa, trì kinh Pháp Hoa không có nghĩa là “đọc kinh” Pháp Hoa, trì kinh Pháp Hoa không phải là cầm kinh Pháp Hoa hay làm bất cứ điều gì khác đối với cuốn kinh Pháp Hoa cả. Chúng ta phải luôn ghi nhớ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa tức là đưa ý thức của chúng ta hướng về cõi đó, cứ nghĩ mãi về cõi đó tự nhiên ý nghĩ sẽ mất heat, tâm trở nên trong sáng hoàn toàn, từ đây những trí tuệ nhiệm mầu, những năng lực nhiệm mầu sẽ phát sanh.
Nếu như quý vị suy nghĩ về chuyện đi chợ, từ chuyện đi chợ lập tức sẽ có muôn ngàn ý nghĩ khác phát triển chung quanh đó. Nhưng nếu quý vị suy nghĩ về cõi tâm thuần khiết, lát sau sẽ thấy bí không biết nghĩ về điều gì cả, thế là tự nhiên ý nghĩ sẽ biến mất. Liệu có ai nghĩ về cõi thuần khiết mà nghĩ được điều gì hay không? Câu trả lời là không, không thể suy nghĩ gì được. Lúc ấy nghiệp chướng sẽ tiêu trừ và công đức phát sinh. Như vậy chỉ có một cách duy nhất là suy nghĩ về cái tâm thuần khiết này, cái cõi thuần khiết này mới là cách nghĩ vi diệu, bởi vì nghĩ đến điều này sẽ không còn ý nghĩ gì khác nữa, sẽ khong nghĩ gì được cả. Còn nếu chúng ta nghĩ đến bất cứ chuyện gì thì dứt khoát sẽ đẻ ra vô lượng suy nghĩ. Điều bí mật nằm trong chính chỗ này.
Vậy nếu chúng ta hướng suy nghĩ về cõi thuần khiết có nghĩa là chúng ta trì kinh Pháp Hoa. Mà nếu chúng ta dừng suy nghĩ được rồi tự nhiên tâm chúng ta sẽ không còn xao động mà sẽ sáng ra lạ lùng. Khi đó mỗi người sẽ tự chiêm nghiệm lấy, tự biết lấy sự mầu nhiệm hay ho như thế nào. Tôi không thể diễn tả được điều ấy cho quý vị mà chỉ có thể đảm bảo chắc chắn quý vị sẽ tự nhận thấy nó kỳ lạ vô cùng. Ở đó quý vị sẽ gặp được thầy mình, ở đó sẽ xuất hiện những lời dạy rất vi diệu, sẽ đem đến tất cả những gì mà quý vị đã từng ao ước xưa nay mà không đạt được. Điều này thì phước ai nấy hưởng. Quý vị phải chú ý đến điểm vô cùng quan trọng trên trong khi trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa vì toàn bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa là Đức Phật muốn chỉ cho chúng sanh biết điều đó.
Sau phẩm Tự, đến phẩm Thí dụ hay phẩm Phương tiện cũng như các phẩm sau đó vẫn chỉ lui tới chung quanh một ý là để cho hội chúng hiểu được điều đó, mà người đầu tiên ngộ được chính là ngài Xá Lợi Phất. Chắc hẳn quý vị còn nhớ trong phẩm Phương tiện, người thấu hiểu và được thọ ký thành Phật đầu tiên chính là ngài Xá Lợi Phất.
Thọ ký thành Phật có nghĩa là Đức Phật khẳng định chắc chắn rằng với trình độ hiểu biết của ngài Xá Lợi Phất thì trước sau gì Ngài cũng nhận ra được cái thế giới mầu nhiệm này, nhận ra cõi mà Đức Thế Tôn không cách gì nói ra được. Chứ thành Phật ở đây không có nghĩa là được khoác một chiếc áo đẹp đẽ, rồi đi đứng nghiêm trang đạo mạo, tạo ra vẻ mặt khắc khổ, mắt lim dim… hoàn toàn không phải vậy. Thành Phật theo dáng vẻ này thì hoàn toàn không đúng như ý Đức Thích Ca. Không cần phải lim dim mắt mũi, thậm chí có thể quơ tay quơ chân thoải mái cũng chẳng sao, miễn là chúng ta ngộ được điều đó.
Phật thọ ký có nghĩa là Phật nói rằng: “Ta nói cho ông biết, trước sau gì ông cũng sẽ thành Phật, trước sau gì ông cũng ngộ được điều này, sẽ sử dụng, sẽ khai thác được điều này để làm lợi ích cho chúng sanh. Nhưng ta cũng cho ông biết nếu muốn có được điều đó thì trong vô lượng kiếp ông phải hầu hạ vô lượng chư Phật”. Hầu hạ chư Phật là gì? Có nghĩa là lúc nào cũng phải nghĩ tới điều này. Đừng tưởng rằng ta không có Phật nào để mà hầu, bởi vì Phật ở ngay trong ta, muốn hầu hay không tùy mình, nhưng nếu muốn được phước đức ta phải hầu hạ Phật của mình, lúc nào cũng đưa suy nghĩ hướng về điều ấy thì dứt khoát đến một ngày nào đó cõi tâm ta sẽ bừng nở ra: đó chính là ý nghĩa của việc hầu hạ vô lượng chư Phật. Một lần suy nghĩ chuyện bên ngoài là một lần đứt quãng sự giao tiếp với Phật, là tạm ngưng hầu hạ Phật. Khi chúng ta đưa vô lượng ý nghĩ về cõi tâm vô nhiễm thì các ý nghĩ sẽ biến mất, có nghĩa là ta hầu hạ vô lượng chư Phật.
Tôi xin phân tích cho quý vị thấy sự khác biệt giữa hai cách nghĩ: Nếu chúng ta hướng suy nghĩ về một điều gì bên ngoài - chẳng hạn như bông hoa hồng, ly nước mía - hễ càng nghĩ quý vị sẽ thấy có hàng trăm ý nghĩ khác xuất hiện nối tiếp nhau. Cứ càng nghĩ chúng ta càng nạp thêm năng lượng cho vô lượng suy nghĩ phát triển hoài, mà mỗi ý nghĩ đều đem lại một phiền não khác nhau, vô lượng ý nghĩ là vô lượng phiền não. Ngược lại nếu chúng ta nghĩ về cái cõi thuần khiết tự nhiên tất cả những ý khác sẽ chấm dứt ngay, không còn ý nghĩ nào tồn tại, tức là chúng ta cắt đứt dòng năng lượng để cho vô lượng những suy nghĩ vô bổ không còn sinh sôi và hoạt động được nữa.
Thật là phước đức lớn lao cho quý vị nào lắng nghe và quan tâm đến những điều vừa trình bày trên đây, mà muốn đạt được kết quả thì phải bắt chước Phật Thích Ca trong phẩm Tự là im lặng và chối bỏ mọi sự hiểu biết bên ngoài của mình. Nếu người nào có phước duyên và tin tưởng điều này tất sẽ đạt được, còn nếu vô phước mà cứ đem lòng nghi ngờ thì đành chịu.
Hồi tưởng lại quá khứ, tôi thấy rằng mình đã có nhiều phước duyên khi trước đây rất ngu si trong việc học tập và từ nhỏ đến lớn luôn luôn nghi ngờ sự hiểu biết của bản thân, không hề cho rằng mình giỏi giang mà ngược lại luôn hoài nghi về khả năng tư duy của mình. Tất cả mọi sự hiểu biết, kể cả khi đạt đến trình độ bác học, cũng chỉ nằm trong giới hạn của sự tầm thường mà thôi và không cần phải quan trọng hóa nó. Còn nếu giữ được tâm rỗng không thì sẽ có vô lượng trí tuệ độc đáo phát sinh khi các ngoại duyên tiếp cận hay giao duyên với cõi tâm thuần khiết vĩ đại.
Dù đã lớn tuổi rồi chúng ta vẫn nên quay về với tâm trạng của trẻ thơ thì sẽ gặp được Phật ngay, lại có được lợi thế hơn trẻ thơ là tuy ta ngây thơ hồn nhiên nhưng sự nhận biết lại phát huy cao độ và ta tràn đầy hạnh phúc với tính nhận biết này, trong khi trẻ nhỏ thì chưa có khả năng nhận ra điều ấy. Trẻ thơ hạnh phúc nhờ sự hồn nhiên nhưng chúng không nhận thức được điều ấy nên chúng không thể thưởng thức được hạnh phúc ấy! Còn người lớn khi về với tâm bình lặng, tâm trẻ thơ sẽ ý thức rõ rệt về hạnh phúc tâm true thơ mà mình đang hưởng.
Bao nhiêu năm tính toán chẳng đem lại lợi ích gì nhiều mà chỉ khiến ta mệt mỏi. Sau khi đã ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, nay quay trở về với trạng thái trẻ thơ chúng ta sẽ gặp Phật. Kể từ đó chúng ta bắt đầu sáng tạo lại đời mình và một cuộc đời mới sẽ hình thành. Một trẻ thơ mà biết thiết kế cuộc đời của mình thì thật thú vị. Trong cuộc đời mới này, chúng ta nghĩ, nói hay làm điều gì cũng có Phật tham gia nên không còn cực nhọc và bị trục trặc nữa. Còn nếu cứ giữ mãi suy nghĩ là chúng ta đã biết rồi, biết rồi, biết rồi, biết nhiều thứ quá, xin thưa với quý vị, tất cả cái kho tàng biết đó có khi lại là tai họa mà Đức Phật đã cho rằng đó chỉ là một thế giới ảo, thế giới mộng tưởng điên đảo mà thôi. Khi đề cập đến thế giới ảo, Đức Phật muốn ám chỉ cái khối suy nghĩ, cái khối ý tưởng, cái kho tàng ý tưởng mà chúng ta tập trung lại từ xưa đến nay. Đức Phật nhấn mạnh đó chính là thế giới ảo mộng, đó chỉ là mộng tưởng điên đảo.
Đôi khi chúng ta lại nghe những lời rao giảng: “Hãy bỏ vọng theo chân, bỏ cái sinh diệt mà theo cái trường tồn”. Thật ra tôi chưa thấy ai “bỏ vọng theo chân” cả, còn những người khuyên Phật tử “bỏ vọng theo chân” thì chính họ lại thâu tóm vọng! Một ly nước đậu nành có đầy đủ chất béo bổ dưỡng thì không phải là ảo mà là thực và rất thực tại, mặc dù đó là cái thực của vô thường nhưng vẫn là thực chứ không phải ảo, mà chính sự tưởng tượng mới là ảo. Nếu quý vị chú ý và hiểu được điều này tất yếu sẽ hiểu được toàn bộ bí mật của kinh Pháp Hoa, không còn phải thắc mắc gì nữa.
Ở đây chúng ta lưu ý một điều tế nhị hơi khó hiểu: tất cả mọi hiện tượng như chồng vợ, thực phẩm, nhà cửa v.v…chúng là có thực tạm thời, có thực không bền vững và chúng ta chấp nhận sự thực ấy với bản chất của nó là không bền vững để ứng xử phù hợp mà không phiền não. Không có quá khứ, không có tương lai, không có hiện tại mà chỉ có thực tại. Thực tại là tối hậu. Nếu rời thực tại tối hậu là sống với mộng tưởng điên đảo.
Một khi đã hiểu rõ toàn bộ bí mật của kinh Pháp Hoa thì cũng đừng nên bỏ việc tụng kinh Pháp Hoa, vì đã hiểu rồi tụng kinh lại càng thấy hay. Mỗi lần tụng kinh chúng ta ý thức được rằng đây là một công sức lao động bao gồm cả tâm lẫn trí để cái thế giới ảo ngưng diễn ra trong tâm mình, để được rảnh rang và có cơ hội tiếp xúc trở lại với cõi tâm thuần khiết của chúng ta.
Nếu chưa có đủ phước duyên khiến mỗi khi hướng về cái tâm thuần khiết chúng ta lại bị kho tàng ý nghĩ của quá khứ tích trữ trong tâm khơi dậy làm cho khó chịu thì hãy tụng kinh Pháp Hoa, tụng mãi tụng mãi cho quên đi để chúng ta có thể bắt đầu suy nghĩ về cõi thuần khiết. Như thế giờ đây việc tụng kinh mang một ý nghĩa khác và hay hơn hẳn so với từ trước đến nay. Do đó chúng ta không cần thiết bỏ tụng kinh Pháp Hoa. Giờ đây khi tụng kinh chúng ta biết chắc chắn rằng sẽ có cơ hội được gặp Phật của mình, còn trước đây chẳng qua vì nghe nói tụng kinh Pháp Hoa sẽ được công đức nên ta tụng vậy thôi chứ chẳng hiểu ngọn ngành gì. Mà một khi được gặp Phật là đương nhiên phải có công đức, sẽ có vô lượng công đức tuôn trào chứ không thể nào không có công đức cả. Chỉ có suy nghĩ ra ngoài mới thiếu công đức, mới làm giảm công đức. Đừng suy nghĩ ra ngoài mà tập trung suy nghĩ vào trong, vào cõi vô nhiễm của nội tâm thì sẽ có công đức.
Tóm lại nếu chúng ta chịu dừng suy nghĩ ra bên ngoài thì chắc chắn sẽ thấy Phật của chúng ta, tức là thấy được cõi vô nhiễm của tâm thuần khiết. Toàn bộ các phẩm của kinh Pháp Hoa là nhằm để ca ngợi điều này mà thôi chứ không có gì khác.
Ngoài ra còn có một số điều mà khi đọc chúng ta cảm thấy thấm thía, chẳng hạn như phẩm Long Nữ thành Phật. Nữ la øchỉ sự ái dục rất nặng, là muốn nhiều thứ, muốn không dừng.Tuy nhiên Ngài Văn Thù Sư Lợi giảng pháp Long Nữ lại hiểu được, có nghĩa là cái mầm hiểu biết, hạt giống hiểu biết luôn có sẵn trong tất cả các loài chúng sanh và đều y hệt như nhau. Khi có đầy đủ nhân duyên tác động vào bản chất hiểu biết này thì chúng sanh có cơ hội phát triển sự hiểu biết đến vô tận và cao hơn nữa chúng có thể nhận ra khả năng ấy, bản chất ấy và thân-khẩu-ý của họ sẽ ở vào trạng thái nhẹ nhàng sáng suốt như Phật. xem tiếp ---> |