|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG |
|
KIẾN TRÚC CHÙA THỜI TRẦN |
|
VÀ VÀI GỢI Ý CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG |
|
TRÙNG TU DI TÍCH YÊN TỬ |
|
PGS Chu Quang Trứ - Viện Văn hoá |
|
Cho đến hôm nay, dường như có một tiếng nói chung rằng
thời Lý, Trần là giai đoạn thịnh trị nhất của Phật Giáo
Việt Nam. Tuy nhiên dấu tích kiến trúc của thời kỳ này còn
lại quá ít còn lại quá ít, bù lại là được sử sách và
bia ký ghi lại nói tới khá nhiều. Chùa tháp thời Lý chỉ
còn lờ mờ một ít nền móng và một số mảng khối trau
chuốt và đường nét tinh tế. Chúng là sản phẩm của
một xã hội thật ổn định với những quan hệ hữu ái mà
có lẽ chỉ thời Lý mới có được. Chùa tháp thời Trần
thì còn rõ hơn, thậm chí có chỗ khá nguyên vẹn, đặc
biệt bệ thờ thì khá nhiều và văn bia cũng có phần đầy
đủ hơn, điều đó cho phép chúng ta nhận dần dần đặc
trưng chùa tháp thời Trần. Nhà
Trần thay thế nhà Lý bằng một cuộc đảo chính hoà bình qua
hôn nhân. Như thế không gây một sự
đảo lộn nào mà còn duy trì tất cả các chùa tháp vốn có trên
nhiều miền quê và xây dựng thêm, nửa sau thế kỷ XIII, nhà
Trần phải trải qua ba lần kháng chiến với Chăm–pa, kinh thành
Thăng Long từng bị địch chiến và tàn phá, nhưng các chùa ở
rải ra trong các làng quê rất ít bị ảnh hưởng. Có chăng là
sau thời Trần, trong cuộc Minh thuộc kéo dài 20 năm, với chủ
trương huỷ diệt văn hoá Đại Việt, chùa tháp mới bị chúng
phá như còn ghi ở bia chùa Đợi (Hà Nam) và bia chùa Ngô Xá (Gia
Định). Tiếp theo vào thời Lê sơ, do chính sách hạn chế
Phật giáo của Nhà Nước, chùa cũ hư nát không được sửa
chữa mà phải dồn gộp lại. Lại do thời gian từ thời Trần
đến nay đã có trên 600 năm phủ lấp, bao biến cố do thiên
nhiên và con người gây ra đã tiếp tục phá hoại di tích.
Với những lý do trên, từ đầu thế kỷ XV trở đi, chùa tháp
thời Trần liên tục bị phá huỷ. Ngày nay chúng ta phải tận
dụng mọi nguồn tư liệu thư tịch và điền dã. Sử
cũ nhắc nhiều đến những bài bia do Lê Quát và Trương Hán Siêu
soạn, ở bia chùa Thiệu Phúc Thôi Bái (Bắc Giang), Lê Quát
viết: “nhà Phật lấy chuyện hoạ phúc để cảm động lòng
người, sao mà cảm phục được người ta sâu và bền vậy! Trên
từ Vương công, dưới đến thường dân, phàm là đóng góp cho
việc nhà Phật, thì dù có dốc hết tiền cũng không tiếc. Giá
như hôm nay gửi gắm được gì vào tháp chùa thì hớn hở như
thế cần được khế khoán trong tay, để ngày mai được báo
đáp… Từ
trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả
những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta
cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà
ở là ắt có chùa chiền, bỏ rồi lại dựng, hỏng rồi lại
sửa, số chiêng trống lâu đài chiếm gần hết một nửa cửa
dân cư. Đạo Phật rất dễ thịnh và rất được người ta tôn
sùng”. Còn Trương Hán Siêu ở Bài Ký tháp Linh tế núi Dục
Thuý (ninh Bình) đã xác nhận: “Ta bảo rằng Thích Già và Lão
Tử lấy tâm không chứng đạo nhân tu. Sau khi tích diệt đến
lúc đời cuối, nhiều người phụng đạo Phật để cổ hoặc
chúng sinh. Thiên hạ chia làm 5 phần, thì chùa chiếm 1 phần. Chùa
tháp Linh tế vốn có từ thời Lý, nhưng khi Trương Hán Siêu đến
thăm thì “chỉ thấy ngói vỡ nền đổ, vùi dập ở sỏi đá
bụi rậm”, nhưng rồi năm 1137 đã dựng lại với quy mô rất
lớn: Tháp cao như “Bám rễ từng mây, chồng nằm đá từ
một tấc lên đến một thước, từ một thước lên đến mộ
nhân, một bước tiến thêm một bước, một trùng cao lên một
trùng, cho đền lúc nguy nga đặc lập, hình thế ngất trời, tăng
vẻ tráng quan cho non nước, cùng với tạo hoá mà tranh công”,
ở đây không thấy sự trợ giúp của triều đình, chỉ do
một nhà sư đứng ra tổ chức, nhưng không hẳn là chùa tháp
của làng, nó gắn với thắng cảnh đặc biệt là núi non nước
soi bóng xuống dòng sông đáy và do đó ngay khi ấy đã là một
tài sản quốc gia. Trong
khi đó, Nguyễn Lưu ở bài Bia Viện Diên Phúc khắc năm 1328
hiện chùa thôn Che (Hà Tây), cho biết nơi đây chẳng những là
chùa thờ Phật mà còn là tu viện Phật giáp với một mặt
bằng được bố cục cân đối: “Hàng rào xung quanh, trúc tía
um tùm. Viện ở giữa cảnh ấy còn truyền ngọc điện đường
đường, lớp lớp lô nhô, khói sương quấn quýt (có thể)
xứng uy rồng đáng phương … Đằng sau là phòng tăng, thầy tu
ngồi yên điều tức luyện tâm … Đằng trước là (…) nơi
dẫn đường mở lối huyền cơ yếu chỉ. Hai bên tả hữu là
hồi lang, ở đó đông đúc người nghe kinh Phật”. Như
vậy chùa tháp thời Trần ở vùng xa dân thì chùa lại có xu hướng
hoà đồng vào thiên nhiên, lấy cảnh trí mái đá cây cối làm
chỗ tu hành. Câu chuyện đầu thời Trần (vào năm 1236 hay
1237?) vua Trần Thái Tông trốn lên núi Yên Tử đã nói với nhà
sư Trúc Lâm Đạo Viên: “Trẫm muốn vào núi là chỉ cần làm
Phật, chứ không cần gì khác”. Nhưng sư Trúc Lâm Đạo Viên
đã trả lời “Núi vốn không có Phật, Phật chỉ có ở trong
tâm, tâm lặng lẽ mà biết, ấy là Chân Phật” và khi Trần
Thủ Độ không mời được vua về kinh đã sai cắm mốc chăng
dây chi thành hàng ngũ ở trong núi, phòng theo kích thước ở
kinh thành bắt thợ xây dựng. Thấy thế, sư Trúc Lâm Đạo Viên
bèn xin với nhà vua: “Bệ hạ nên sớm quay loan giá về kinh thành,
không nên để họ làm hại đến núi từng của đệ tử này”.
Đây là chùa Yên Tử ở đầu thế kỷ XIV, trước rất nhiều
khi vua Trần Nhân Tông dời ngai vàng điện ngọc đến đây
lập thiền phái Trúc Lâm. Những
ghi chép của thư tịch trên đây lại được tài liệu điền dã
với những chứng tích vật thể bổ sung. Đúng ra cho đến hôm
nay chúng ta chưa tìm được một ngôi chùa nào của thời Trần
còn nguyên vẹn, nhưng những bộ phận còn lại vẫn giữ nguyên
vị trí đã cho chúng ta hình dung lại quy mô và bố cục xưa,
điển hình là chùa Phổ Ninh (Nam Định) dựng năm 1262 ở cạnh
Tức Mặc phục vụ cho bộ phận hoàng gia đi theo Thái Thượng
Hoàng về cung Thiên Trường: Mở đầu là Tam quan vẫn còn
những con sấu, lân đá làm thành bậc, sau Tam quan là con đường
chạy giữa hai giếng mắt Rồng để vào sâu. Trên sâu có một
số bia đá cột kinh Phật. Giữa sân là cây tháp đá cao hơn
20m, đế và tầng dưới bằng đá, những tầng trên bằng
gạch. Tháp gồm 14 tầng nhưng thật ra 3 tầng trên mới xây
dựng lại ở đầu thế kỷ XX, nên nguyên xưa có thể chỉ có
11 hoặc 13 tầng, tỷ lệ
chiều cao so với cạnh chân chừng 1/4, cuối sân là khu Tam bảo
đã dựng lại ở thời Nguyễn, vẫn giữ mặt nền cao, trước
hiên nhà Tiền đường còn những cặp Rồng đá thành bậc, và
cửa chính của Tiền đường vẫn giữ được bộ cánh cửa
chạm Rồng. Chùa
Bình Sơn (Vĩnh Phúc) chỉ còn giữ được cây tháp gốm ở
giữa sân dựng vào những năm cuối chót thế kỷ XIV, tuy không
còn đầy đủ các tầng vẫn cao chừng 15m gần đây gấp 4
cạnh chân. Cây tháp này là một bộ phận của chùa như tháp
Phổ Minh. Chùa
Dâu (Bắc Ninh) vừa tồn tại trong truyền thuyết do Trạng Nguyên
Mạc Đĩnh Chi cho xây dựng với cầu 9 nhịp, tháp 9 tầng và chùa
100 gian, vừa tồn tại trên thực địa phần nào phù hợp với
truyền thuyết: Cầu bắc qua sông Dâu, để vào Tam quan ngày nay
đã mất. Tháp ở sâu vẫn còn giữ được cặp sấu/ lân đá
bậc cửa nhưng đã xây lại năm 1738 bằng gạch Bát Tràng để
mộc bậc. Nhà Tiền đường và Thiên hương đã làm lại ở
thời Nguyễn để dẫn lên toà Thượng điện vẫn giữ được
kiểu thức cơ bản của thời Trần. Chùa Bối Khê (Hà Tây) và
chùa Thái Lạc (Hưng Yên) cũng đều còn giữ được toà Thượng
điện có khung 1 gian 2 mái, mái lan xuống thấp, các góc đao
uốn cong, toàn thể giống bông hoa sen. Xung quanh chùa bưng ván
gỗ đố lụa, có thể nguyên xưa để trống. Sức chịu đựng
ở đây là các cột truyền xuống nền, không cần móng. Vì nóc
là kiểu giá chiêng lồng ván là đề, hai bê trụ là rường. Các
bộ phận đều lực lưỡng và do đó được làm “nhẹ” đi
bằng cách phủ lên nhiều hình trang trí. Ở chùa Thái Lạc còn
có nhiều bức cốn trên các xà vách được chạm rất vui mắt. Ngoài
ra còn có thể biết được chừng dăm chục ngôi chùa nữa có
dấu vết thời Trần, biểu hiện ở những con rồng hoặc sấu,
lân đá ở trước Tiền đường hoặc bệ đá hoa sen khối
hộp ở trong nhà Thượng điện nhiều bệ ghi rõ niên đại
tuyệt đối, tập trung vào vài mươi năm cuối thế kỷ XIV. Ngoài
khơi khá xa, trên đảo Thừa Cống trong vịnh Bái Tử Long (Quảng
Ninh) đã phát hiện được nền của Chùa Lấm với mặt bằng
thống nhất với nhiều chùa thời Trần đã biết: Ngoài sân chùa,
sau sân là nhà Tiền đường, cách một khoảng sân hẹp có
thể xưa có nhà cầu kiểu ống muống làm nhà Thiên hương
dẫn lên nhà Thượng điện cao nhơn nền gần vuông để dựng
1 gian hai chái. Sau Thượng điện là sân rồi đến nhà Hậu
đường mà hầu hết các chùa ở trong đất liền đều có nhưng
đã dựng lại ở thời Nguyễn. Tổng
hợp tư liệu thư tịch và tư liệu điền dã, có thể hình
dung một mặt bằng cơ bản của chùa thời Trần. Từ những chùa
sớm ở giữa thế kỷ XIII đến những chùa muộn ở cuối
thế kỷ XIV, cả mặt bằng trải ra khá rộng, ngoài cùng là
Tam quan, sau đó đến con đường Nhất chính đạo nằm trên
trục kiến trúc; cuối đường là sân chùa có thể có một cây
tháp Phật ở giữa sân, sau sân là khu Tam bảo với ba toà nhà
liền nhau để có thể tạo một không gian nội thất chung là
toà Tiền đường dàn ngang, rồi đến toà Thiên hương chạy
dọc, cuối cùng là toà Thượng điện 1 gian 2 chái ở trên
nền cao. Phía sau chùa có thể có nhà Hậu đường. Từ
đặc trưng chung của mặt bằng kiến trúc chùa thời Trần, soi
vào tổng khu chùa trên núi Yên Tử, chúng ta có thể nghĩ đến
một sơ đồ khái quát. Chùa Yên Tử thế kỷ XIV là trung tâm
Phật giáo Trúc Lâm mà Vua Trần Nhân Tông là Tổ thứ nhất
được xem là Đức Phật tái thế, phải có một diện mạo
mới khác với thời thiền sư Trúc Lâm Đạo Viên ở đầu
thế kỷ XIII. Gắn với truyền thuyết về Vua Trần Nhân Tông ròi ngai vàng, rũ sạch
bụi trần, giải thoát cho các cung tầng mỹ nứ để lên
núi cao tu luyện… thì tổng thể là cả một khu vực dài
rộng từ chân núi lên đỉnh núi, có cây rừng tự nhiên, có hàng
Tùng được trồng và trong từng khu chùa cụ thể, có thể
nối nhau thành chuỗi dài, cũng có thể chạy ngang với những
nhánh phụ, và từ nhánh phụ lại có đường mòn khác dẫn vào
nhánh chính. Đó là một kiến trúc mở, không có đường biên
cụ thể, do đó từ sân chùa lan toả tự nhiên vào rừng cây mà
trở nên trải rộng vô biên. Đây cũng là tinh thần của Phật
giáo Trúc Lâm: “ôHoàuang đồng trần”, đem ánh sáng Phật pháp
tinh khiết hoà vào cõi trần ô trọc để làm cho tất cả sinh
linh đều được giác ngộ. Nói chung từng khu chùa chỉ khoanh
trong những mặt bằng hạn hẹp của tự nhiên cho phép, do đó
kiến trúc không lớn và đơn giản, để nó không xâm hại đến
núi rừng. Nhưng là trung tâm dòng Thiền duy nhất của thời
Trần, vậy phải có một ngôi chùa chính khá khang trang, do
biết kết hợp những mặt bằng nho nhỏ gần nhau, biết gắn
kết những công trình kiến trúc đã có (cơ bản là các nhóm
tháp mộ sư sư thời Lê) với nhau. Đó là khu chùa Hoa Yên, chùa
này cần có Tam quan từ khoảng nhóm tháp Ngọc, rồi theo đường
Nhất chính đạo xuyên qua tháp Tổ dẫn đến khu Tam bảo là
khu chùa Hoa Yên hiện nay: Sau khoảng sân hẹp là các toà Tiền
đường – Thiên hương –Thượng điện gắn kết với nhau
theo chữ Công (|).Thượng điện chỉ cần 1 gian 2 chái trên
một nền gần vuông và được chạm phỏng theo những bức
chạm thời Trần. Hai bên nên có hành lang mở, và khoảng đầu
ngoài của hành lang mỗi bên nhô lên một lầu nhỏ làm gác chuông
(bên trái, trong nhìn ra) và gác khánh hay gác trống (bên phải).
Nối đầu trong của hai hành lang là một dãy nhà Hậu đường
cơ bản phục vụ sinh hoạt của tăng, ni. Tất nhiên phải có
thêm khu nhà tiếp khách của cơ quan và nhà cho cán bộ cơ quan
(tức Ban quản lý di tích Yên Tử) làm việc, nên xây lệch về
bên trái (trong nhìn ra) là nơi đất rộng và là nơi tập kết
lên chùa Đồng hoặc sang chùa Một Mãi. Khu nhà này nội thất
có thể hiện đại, song ngoại thất vẫn nên theo kiểu truyền
thống để nó hoà nhập với toàn cảnh. Cuối
cùng là rất cần giữ gìn, chăm sóc hệ thống cây cổ thụ đã
có, và trồng bổ sung cây mới để sau này sẽ thay thế cây cũ.
|