|
PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY HỌC TẬP ĐƯỢC GÌ |
|
TIẾP THU ĐƯỢC GÌ Ở PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN |
|
GS.Minh Chi |
|
(Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam) |
|
I. Phật giáo đời Trần đỉnh cao của Phật
Giáo Việt Nam. Kết
luận có tính khẳng định này nói chung được đại đa số
các nhà Phật Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đồng ý.
Tuy nhiên, từ khẳng định đó rút ra những kết luận gì có
giá trị thực tiễn hiện nay, thì ý kiến lại khác nhau,
thậm chí còn mâu thuẫn nhau nữa. Trước
hết, có một số người muốn khôi phục lại toàn bộ tổ
chức Phật giáo Lý – Trần (họ nói cả hai triều đại Lý
và Trần, chứ không riêng triều đại nhà Trần). Với quy
chế Phật giáo là quốc giáo. Tôi nghĩ rằng, quan điểm của
họ là không thực tiễn. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội đang
thay đổi. Con người cũng thay đổi. Các vua đời Lý và đời
Trần tuy là những ông vua tài giỏi và sáng suốt thời bấy
giờ, nhưng rất khác biệt với những người
lãnh đạo hiện nay ở nước ta. Hiện nay, Phật giáo chỉ là
trong các tôn giáo tồn tại trên đất nước Việt Nam.
Những người lãnh đạo có thể có tư tưởng bao dung rộng rãi
và tôn trọng Phật giáo thật sự. Thế nhưng, dành cho Phật
giáo quy chế quốc giáo sẽ là một sai lầm lớn, dẫn tới
mất đoàn kết tôn giáo. Một
số người khác thì cho rằng Phật giáo đời Trần - đỉnh
cao của Phật giáo Việt Nam – là chuyện lịch sử, xảy ra cách
đây gần 1000 năm rồi, không còn chút giá trị thực tiễn nào
nữa. Đó chỉ là một thứ đồ cổ, chỉ có những người
hoài cổ mới chủ trương phục hồi thứ đồ cổ đó. Lại
có một số người cho rằng Phật giáo đời Trần thực ra cũng
không có gì là đặc sắc của Việt Nam nói chung hay là của
đời Trần nói riêng. Phật giáo Việt Nam bất qua chỉ là
một sao chép “lôm côm” của Phật giáo Trung Hoa, thế thôi.
Thổi phồng những đặc sắc của Phật giáo đời Trần chỉ
là hoang tưởng của một số người trí thức Việt Nam mang
nặng tư tưởng “Đại Việt” lỗi thời. II.Một số tư tưởng độc đáo của Phật giáo
đời Trần. Tác
giả bài này không đồng ý với những quan điểm nói trên.
Tất nhiên, khôi phục lại hoàn cảnh lịch sử xã hội hiện
nay của Việt Nam, Phật giáo đời Trần với nguyên dạng
của nó, với quy chế quốc giáo của nó là một chuyện hoang
đường phi lịch sử. Nhưng phủ định mọi giá trị và ý
nghĩa thực tiễn của bài học Phật giáo đời Trần cũng là
phi lịch sử. Phi lịch sử bởi vì Phật giáo đời Trần chính
là bài học lịch sử mà các Phật tử ngày nay phải suy
ngẫm, nghiên cứu để tiếp thu một cách sáng tạo những gì
có thể tiếp thu được, vẫn còn có giá trị thời sự.
Phủ nhận mọi giá trị của Phật giáo đời Trần không khác
gì phủ nhận lịch sử. Còn xem Phật giáo đời Trần không có
gì là độc đáo Việt Nam, thì cũng không khác gì là phủ
nhận dân tộc. Trong
những năm 1993 – 1994, viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều cuộc hội
thảo khoa học nhằm nghiên cứu, phát hiện và làm sáng tỏ
những đặc sắc của Phật giáo và Thiền học đời Trần.
Kết quả nghiên cứu nhiều năm đó, là cuốn “Thiền học
đời Trần”, xuất bản năm 1995 và đã được tái bản.
Trong cuốn sách này, tôi có bài tổng kết với đầu đề : Vài
ý kiến góp phần tổng kết Phật giáo đời Trần (trg.293). Bài
này đã được đăng lại nhiều lần ở các tạp chí trong và
ngoài nước. Vì vậy, ở đây, tôi không nhắc lại nữa chi
tiết của bài tổng kết. Tôi chỉ xin ghi lại đây một vài
tư tưởng chủ đạo của Phật giáo đời Trần , mà riêng tôi
suy nghĩ, rất xứng đáng cho Phật tử và Tăng Ni Việt Nam
hiện nay học tập, rút kinh nghiệm ôn cũ để biết mới. Ở
đây không có gì là vọng cổ, hoài cổ hay phục cổ cả. 1. Tư tưởng siêu việt thế tục, nhưng không
phải là chán đời. Dưới
đời Lý là đời Trần, có những ông vua kiêm Thiền sư, nhưng
không xuất gia. Thí dụ : dưới đời Lý, có vua Thái Tông là
một Tổ thuộc thế hệ thứ 7 phái Thiền Vô Ngôn Thông, là
phái Thiền thứ 2 ở Việt Nam. Vua Lý Thánh Tông là Tổ thứ
hai của phái Thiền Thảo Đường, là phái Thiền thứ 3 ở
Việt Nam. Đặc biệt, dưới đời Trần, có Trần Thái Tông
khai sáng ra triều đại nhà Trần, là ông vua đã lãnh đạo
cuộc kháng chiến lần thứ I thành công chống Nguyên Mông, nhưng
cũng là ông vua đã từng rời bỏ kinh thành, lên núi Yên Tử
cầu đạo. Được Quốc sư Viên Chứng, lúc bấy giờ đang
trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử khuyên giải, ông đã
trở lại làm vua, với lời tuyên bố khẳng khái “Ta xem ngai
vàng như chiếc giày rách, bỏ đi lúc nào cũng được” (Việt
sử tiêu án). Trần
Thái Tông cũng như cháu ông là Trần Nhân Tông là những ông
vua siêu việt lên trên thế tục, không vướng mắc thế tục,
chứ không phải là trốn tránh thế tục. Đầu đề bài phú
Nôm “Cư Trần Lạc Đạo” của vua Trần Nhân Tông rất có
ý nghĩa. Cư trần là sống giữa trần tục, lạc đạo là vui
với đạo, vui niềm vui của đạo, trong bài phú, ông viết : “Trần
tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc, Sơn
lâm chẳng cốc, hoạ kia thật đả đồ công” Ý
thứ hai câu trên là : Sống giữa trần tục mà tu thành công,
được giác ngộ…thì phúc đức là đáng quý hết sức. Còn
ẩn tu giữa núi rừng mà tu không thành công, không được giác
ngộ, thì đó là cái hoạ uổng công vô ích. Nói
chung, phương châm của đạo Phật không lánh đời mà hiểu
đời, nhờ đó mà không bị danh lợi và chuyện thị phi ở
đời lôi kéo, chi phối. Trong bài thơ chữ Hán “Sơn phòng
mạn hứng” vua Trần Nhân Tông viết hai câu : “Thị
phi niệm trục triêu hoa lạc, Danh
lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn”. Nghĩa
là ý nghĩa chạy theo chuyện thị phi như là theo hoa rụng ban
mai, tâm chạy theo danh lợi như là theo mưa lạnh chiều hôm. Các
ông vua đầu đời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông
tuy làm vua, ngồi trên ngai vàng, nhưng vì kiêm là Thiền sư, có
giác ngộ, có tu chứng cho nên có thể nói là các ngài sống
ung dung tự tại giữa đời mà không bị hệ luỵ với đời.
Chính triết lý đạo Phật đã giúp cho các ông vua đầu đời
Lý và đời Trần có được một thái độ siêu thoát, phóng
khoáng và ung dung tự tại như vậy. 2. Tư tưởng người chính là Phật không khác. Khi
đức Phật Thích Ca còn tại thế, các vị cao đệ của Phật
chỉ có một hoài bảo khiêm tốn là chứng quả A La Hán, thoát
khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phật giáo Đại thừa xuất
hiện vào khoảng thế kỷ thứ II trước công nguyên, đánh
dấu một bước ngoặt lớn trong quan niệm về đức Phật.
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức là cái mầm giác
ngộ có sẵn ở trong mình, cho nên chúng sanh nào cũng có thể
có khả năng thành Phật. Nhân vật đặc trưng cho Phật giáo
Đại thừa không phải là A Lan Hán nữa mà là Bồ Tát, phát
nguyện lớn thành Phật là quả giác ngộ vô thượng, dù có
phải tu trải qua vô lượng vô số kiếp. Đến Phật giáo đời
Trần, chúng ta nghe được một giọng nói khác, lúc ban đầu
còn dè dặt, nhưng dần dần được khẳng định hơn. Thí
dụ, ban đầu Quốc sư Viên Chứng, còn nói với vua Trần Thái
Tông, sau khi vua bỏ lên núi cầu đạo, cầu làm Phật : “Sơn
bản vô phật, duy tồn hồ tâm. Tâm tịch nhi tri thị danh chân
Phật.” (Xem Thiền Tông Chỉ Nam Tự) Nghĩa
là : Trong núi vốn không có Phật. Phật chỉ trong tâm. Tâm
lặng mà biết thì đó là ông Phật thật. Nhưng
với Trần Thái Tông trong cuốn Khoá Hư Lục (bài Niệm Phật
Luận) và Tuệ Trung Thượng Sĩ trong cuốn “Thượng Sĩ Ngữ
Lục”, tư tưởng đó tỏ ra dứt khoát hơn và khẳng định
hơn : Phật không phải chỉ là ở trong tâm người, mà chính
là người Phật : “Thân
ta tức là thân Phật, không có hai tướng” (Khoá
Hư – Niệm Phật Luận) Hay
là các câu : “Khi
mê không biết ta là Phật, khi
ngộ thì ra Phật là ta” (Tuệ
Trung Thượng Sĩ) Cũng
như câu của Trần Nhân Tông : “Nhân
khuẩy bổn nên ta tìm Bụt, Chỉn
mới hay chính Bụt là ta” (Cư
Trần Lạc Đạo Phú) Như
vậy là theo các nhà Phật học đời Trần, con người thật
của chúng ta là Phật. Còn con người chúng ta tưởng là
thật, với cái tâm tham, sân, si lại là con người giả, cái
Ta giả. Và tu đạo Phật không có gì khác là bỏ con người
giả, cái Ta giả trở về cái Ta thật, con người thật của
chúng ta. Đó chính là ý nghĩa đích thực của nhân sinh, đó
là lời giải đáp cho câu hỏi muôn thuở vì sao chúng ta lại
có mặt trên thế gian này. Có thể nói, đạo Phật đã cung
cấp cho con người một lý tưởng, một lẽ sống thực sự
cao quý, đủ để tạo cảm hứng không những cho một cuộc
đời, mà cho nhiều đời, mãi cho tới khi chúng ta thành Phật
mới thôi. Mà thành Phật ở đây lại không có gì khác là
nhận chân con người thật của mình chính là Phật. Đó chính
là lý do vì sao đạo Phật chủ trương tìm cầu chân lý không
thể hướng ra bên ngoài mà phải hướng vào nội tâm của mình
mà tìm. Và tất cả những lời dạy của Phật, ba tạng giáo
điển bất qúa chỉ là phương tiện để gíup cho tìmcon người
nhận chân được mình là Phật. Trong kinh “Ví Dụ Con Rắn”
(trung Bộ Kinh, thuộc Kinh Tạng Nam Tông và Kinh Kim Cang thuộc
Bắc Tông) đức Phật cảnh cáo học trò mình rằng Phật Pháp
ví như cái bè, dùng để qua sông (sinh tử) chứ Phật Pháp không
phải là chân lý cứu kính để cho con người cố chấp và vướng
mắc. Đúng như vậy, Phật Pháp cũng chính là phương tiện,
chứ không phải là một mớ giáo điều để cho tín đồ tin
và nắm vững một cách mù quáng và cuồng tín. Trong truyền
thống của Phật Giáo Việt Nam cũng như Phật Giáo của các nước
khác trên thế giới, không có bạo lực tôn giáo hay chiến
tranh tôn giáo, bởi lẽ bạo lực tôn giáo hay chiến tranh tôn
giáo đề trái ngược với lòng từ, lòng bi, với tư tưởng
bất hại (ahimsa) và bất bạo động của đạo Phật. Và
nhất là mâu thuẫn với lời dạy của đức Phật Pháp không
phải là giáo điều, chỉ là cái bè, chỉ là phương tiện đạt
tới chân lý, chứ không phải là bản thân chân lý. Điều này
giải thích vì sao, trong những thời kỳ cực thịnh của
Phật giáo như thời kỳ Lý và Trần, đạo Nho và đạo Lão
đều tồn tại và phát triển, các kỳ thi ba giáo được mở
ra vài năm một lần để tuyễn dụng nhân tài. Tinh thần
của đạo Phật là tinh thần bao dung, đoàn kết, tạo cơ sở
cho sự đoàn kết của nhân dân. Đạo
Phật tránh không nói tôn giáo của ta, chùa chiền của ta…bởi
vì cái Ta bao giờ cũng là đầu mối của mọi sự tranh chấp.
Trái lại, đạo Phật nói Phật ở trong lòng, mầm giác ngộ
tức là Phật tánh vốn có sẵn trong tất cả mọi người
mọi chúng sanh. Thậm chí, chùa cũng không phải là chùa của
sư, mà là chùa của làng, của tất cả dân làng . “Đất
vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” 3.Hai
trách nhiệm của Phật Giáo Việt Nam hiện nay. a. Có thể hay không Phật Giáo Việt Nam hiện nay
đang cung cấp được cho nhân dân Việt Nam, bao gồm cả cán
bộ lãnh đạo những yếu tố tư tưởng giúp con người
Việt Nam siêu việt lên trên những giá trị thế tục tầm thường
như danh vọng, quyền lực, tiền tài, sắc đẹp nam và nữ…Phật
giáo đời Trần đã làm được việc đó, cho nên có những
ông vua như Trần Thái Tông đã khẳng khái tuyên bố : “Ta
xem ngai vàng như chiếc giày rách, bỏ lúc nào cũng được”.
Có những vị tướng như Trần Bình Trọng mắng quân Nguyên
“Thà làm ma nước Nam, không thèm làm vua phương Bắc”.
Phải có những yếu tố tư tưởng phi thường mới giúp được
toàn thể nhân dân nhà Trần làm nên chiến công phi thường là
ba lần đánh thắng quân đội Nguyên Mông, một đội quân đã
từng làm bá chủ trên khắp các chiến trường Á và Aâu
thời bấy giờ. Hiện
nay, nhân dân Việt Nam cũng đang làm một việc phi thường là
vừa thoát khỏi 30 năm chiến tranh (nếu kể cả chiến tranh
Campuchia thì là 50 năm) mà đề ra quyết tâm lớn đuổi kịp
các nước tiến tiến trong khu vực và thế giới trong thời
gian ngắn nhất. Để làm công việc đó, nhân dân Việt Nam cũng
cần được hướng dẫn bởi những yếu tố phi thường, giúp
cho con người Việt Nam sống giữa đời mà không hệ luỵ
với đời, coi thường đồng tiền và danh lợi như cỏ rác…có
như vậy thì nhân dân sẽ không còn hối lộ, cán bộ lãnh đạo
sẽ không còn tham nhũng, dân tộc Việt Nam sẽ sớm đạt được
điểm cao của giàu mạnh, hạnh phúc và công bằng xã hội. Có
thể gọi là tư tưởng siêu việt thế tục, ở giữa trần
tục mà vua với đạo vốn có trong Phật giáo đời Trần . Đến
với đạo Phật đến với chùa là để được bồi dưỡng
với những yếu tố tư tưởng siêu việt thế tục như vậy,
chứ không phải đến chùa cầu danh vọng lợi lộc. Đến chùa
như vậy thì gần chùa, gần Tăng nhưng lại xa Phật. Ở đây
không có vấn đề nhập thế hay xuất thế, được hiểu theo
nghĩa thông thường. Đã sống trong thế gian này, đã làm người
thì không ai có thể thoát khỏi thế gian được, kể cả
những người tu trong rừng sâu, núi cao. Vì sao ? Vì bậc ẩn
tu đó cũng phải có mặc, ở, đi lại như người bình thường,
nhưng không tham. Người hiểu đạo vui niềm vui cao quý, trong
sáng, bền lâu của đạo, chứ không vui cái vui tạm bợ, hư
giả của thế tục. Trong bài “Cư Trần Lạc Đạo phú” vua
Trần Nhân Tông viết : “Nhược
chỉnh vui bề đạo đức, nửa gian lều quý nhử
thiên cung” (Hội 2, Cư Trần
Lạc Đạo – bản phiên Nôm của Thích Thanh Từ – trg. 184
cuốn “Tam Tổ Thực Lục”) Nghĩa của câu phú trên là : nếu thực sự vui
được cái vui của đạo đức, thì sống với nửa gian lều
cũng quý như là sống trong cung điện của Chư Thiện. Chúng
ta chú ý đây là lời nói của một ông vua, đang sống tr9ong
cung điện sang trọng. Theo vua Trần Nhân Tông thì vui của cái
vui của nếp sống đạo đức còn quý hơn là cái vui sống
trong cung điện. Hiện nay, đạo Phật không khuyên chúng ta bỏ nhà
ngói, sống trong lều tranh vách đất. Không đến nỗi như
vậy. Đạo Phật hiện nay chỉ khuyên chúng ta, đã có một
biệt thự rồi đừng ham có thêm hai, ba biệt thự nữa. Nghĩa
là đừng có tham, vì tham thì thâm. Aên không tham ăn, nhưng
vẫn ăn như người bình thường, mặc không tham mặc, ở không
tham ở v.v… Bởi vì theo đạo Phật, niềm vui chân chính không
phải là ở những vật ngoài thân, mà là ở trong nội tâm mình. Đó là yếu tố tư tưởng thứ nhất mà đạo
Phật ở Việt Nam ở thế kỷ XXI sẽ và phải trang bị cho nhân
dân Việt Nam. b.
Yếu tố tư tưởng thứ hai là thấy và khẳng định bản thân
mình là Phật người người cũng là Phật, do đó, muốn tìm
Phật không phải vào chùa hay lên núi mà tìm. Mọi người hãy
hướng vào bên trong mình mà cầu tìm Phật, hay nói đúng hơn,
nhận chân mình chính là Phật. Muốn vậy, không phải nói suông
mà được, mà phải như lời Phật dạy, phải thường xuyên
tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, làm trong sạch tâm
ý mình. Đùng như là lời của quốc sư Viên Chứng nói với
vua Trần Thái Tông khi vua lên núi Yên Tử : “Tâm lặng mà
biết thì đó là ông Phật thật”. Phật lặng là cái bỏ
hết phiền não, tham, sân, si và nhờ vậy mà giác ngộ và
giải thoát. Tôi thấy không có một tư tưởng nào tôn vinh giá
trị của con người đến như vậy, tôn vinh con người ngang hàng
với Phật. |