|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
TIẾP
CẬN KHÔNG GIAN |
|
LỊCH SỬ VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
Kiến trúc sư Hoàng Chí Dũng |
|
Thưa
các quý vị đại biểu, Thưa
ban tổ chức hội thảo cùng các nhà nghiên cứu lịch sử
– văn hoá, những người đang tham gia vào công cuộc bảo
vệ những giá trị lịch sử – văn hoá khoa học của non
thiêng Yên Tử. Hội
thảo khoa học về khu di tích lịch sử – văn hoá Yên Tử
lần thứ nhất diễn ra vào tháng 11/1981 đã mở ra những
vấn đề ban đầu cho quá trình xác định giá trị và bảo
tồn giá trị của khu di tích. Là lớp người đi sau, được
tiếp cận với những bài viết tâm huyết để lại sau
hội thảo ấy, tôi thực sự xúc động và chạnh nghĩ tới
sự trả giá đầy tâm huyết của các vị trong những năm
tháng khó khăn ấy, và có lẽ cũng chính những vấn đề mà
các vị đã gợi mở đã lôi cuốn tôi về Yên Tử với
những trăn trở, dù còn? Dù mất? Đã
20 năm trôi qua từ hội thảo ấy, những tưởng đã có
biết bao tiến triển quan trọng nhưng những gì đã có thêm
ở Yên Tử quả là ít ỏi so với 20 năm của xã hội hiện
đại, một biểu hiện không khỏi làm tội phải suy nghĩ là
đã thêm những xáo trộn và mất mát trong môi trường thông
tin lịch sử mà chúng ta chưa kịp khám phá, mâu thuận với
những mục tiêu bảo vệ giá trị khoa học của di tích. Những
thế hệ đi sau sẽ phải vẫn tìm ra giải đáp cho những
vấn đề nảy sinh, để giữ gìn những di sản mà tổ tiên
đã để lại nơi non thiêng này. Thực tế các công việc đang
diễn ra trong quá trình can thiệp vào di tích còn nhiều bất
cập. Song song với những luận bàn khoa học sức ép của
cuộc sống hiện đại đang bao bọc và nhức nhối trong lòng
di tích mặc dù sự quan tâm của Chính phủ và các ngành các
cấp đã được cụ thể hóa bằng văn bản. Được
may mắn tiếp cận khu di tích lịch sử – văn hoá Yên Tử
trong giai đoạn xúc tiến dự án và khảo sát hiện trạng
lập qui hoạch chi tiết tuyến nội vi, ngoại vi khi tích –
tôi có điều kiện suy nghĩ kiểm chứng với nhiều vấn đề
danh nảy sinh, hôm nay xin được trình bày dưới đây một
số luận giải liên quan đến hai phương điện cơ bản
trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích: Nghiên
cứu giá trị và ứng xử với giá trị. A.
NHẬN THỨC MỘT CẤU TRÚC TƯƠNG SINH CỦA THIÊN NHIÊN
VÀ VĂN HOÁ Luận
đề: Theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhiên thiên là
cái có trước, con người cũng là một sản phẩm được
sinh ra từ nhiên nhiên. Trong quá trình tiến hoá và phát
triển của mình – con người với thuộc tính xã hội và năng
lực ý thức đã tách mình ra khỏi cái tự nhiên hoang dã
ấy, hình thành một lối sống, từng bước hình thành thế
giới quan, cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội…, đó cũng là tiến trình hình thành nền
văn hoá cổ xưa. Cái “Thiên nhiên” của Yên Tử được
sinh ra trước, từ khi người xưa nhận ra và đặt vào đó
những quan niệm, chọn cho nó một cách ứng xử, nó đã
trở thành một “Cấu trúc tương sinh của Thiên nhiên và Văn
Hoá”. Khi một trong hai yếu tố của cấu trúc tương sinh
ấy mất đi thì không còn tồn tại giá trị bản thể của
nó, không còn tồn tại ý nghĩa “Cõi thiêng” mà chỉ còn
lại một địa danh được gọi là Yên Tử. Vậy thì cái gì
đã tạo nên cấu trúc tương sinh ấy? A.1-
SỰ “KHÁC LẠ” CỦA CẢNH ĐỊA LÝ YÊN TỬ. Những
phân tích về “Địa cảnh học” cho thấy: khu địa lý Đông
Bắc có tính chất địa máng với lịch sử phát triển kéo
dài từ Cổ sinh đến Trung sinh. Đến giai đoạn Tân kiến
tạo, khu Đông bắc được nâng yếu khiến địa hình đồi
chiếm ưu thế rõ rệt. Gió mùa Đông Bắc với dãy bình
phong duyên hải đã tạo nên một khu vực nhỏ có lượng mưa
lớn nhất ở sườn đón gió, còn tuyệt hải bộ phận có
lượng mưa thấp. Sự khác nhau về chế độ mưa ẩm làm
cho sông ngòi vùng Đông Bắc có moduyn lưu lượng nhỏ (trừ
vùng duyên hải) và thuỷ chế bất thường. Tính khắc
nghiệt của khí hậu vùng Đông Bắc đã khiến cho thực bì
– thứ sinh ở đây có tính khác biệt. Địa
danh Yên Tử thuộc phía nam cung Đông Triều. “được các
nhà nghiên cứu địa cảnh học tách phân một cảnh riêng
biệt bởi những đặc trưng riêng vì hình thố kiến tạo,
địa chất, thuỷ văn, khí hậu và hệ động thực vật.
Nghiên cứu những đặc trưng khoa học ấy ta có thể hiểu
những “Khác lạ” của cảnh quan tự nhiên yên Tử so
với các khu vực cảnh quan địa lý của vùng Đông Bắc và
đồng bằng bắc bộ. A.1.1-Một
hình thế đột biến: Núi
Yên Tử có độ cao 1068 m cùng Am Váp là hai đỉnh núi cao
nhất thuộc phía Nam cánh cung Đông Triều. Từ không ảnh
hoặc từ các điểm bao quát đại cảnh có thể nhận thấy
dấu tích của tác động địa chất kiến tạo đã xô đẩy
cả một khu vực rộng lớn trồi lên đột ngột, xuôi dần
ra phía thềm biển và dốc đứng về phía lục địa (tây
– bắc). Tại vùng vách đứng phía Tây – Bắc hình thành
hai lớp xô sụt tạo thành đỉnh Yên Tử chênh vênh, tạo nên
một điểm phía Nam cánh cung Đông Triều. Đặc biệt tiếp
cận từ phía Tây – Nam có thể nhận đường dốc nghiêng
mạnh của hình thế và nét cắt dựng đứng của nếp gãy
nổi trên nền trời, ấn tượng thật hùng vĩ! A.1.2-
Đặc trưng của Sơn Thuỷ: Tiếp
cận đỉnh Yên Tử từ vùng phía Nam là sườn núi trải
dầu xuống vùng lòng chảo chen lẫn các khu đồi nâng yếu
từ thời Tân kiến tạo, đặc trưng của vùng sườn phía
Nam là độ dốc giảm đột ngột qua các vùng thềm cửa sông
chảy ra biển. Những hệ suối được tạo thành bởi lượng
mưa lớn nứt gãy kiến tạo đã hình thành những khe xói
lớn và những vùng bồi tích nhỏ, luôn biến động với lưu
lượng lớn. Khác hẳn với hình ảnh tương đối bình
lặng của các đồng bằng. Các dòng suối và sông đầu
nguồn ở vùng này luôn xáo động bởi tiếng reo qua các
thầm gãy địa chất, rất sinh động. A.1.3-
Một vùng tiểu khí hậu đặc biệt: Do
những đặc điểm vị trí địa lý, Yên Tử có đặc
trưng khí hậu rất phức tạp. Nằm trong khu vực chịu ảnh
hưởng mạnh của chế độ nhiệt đới ẩm, gió mùa như các
khu vực Bắc Bộ khác, nhưng ở khu vực bờ biển Đông
Bắc và với độ cao 1068m, mùa đông trên đỉnh Yên Tử
vẫn thường có hiện tượng tuyết rơi, mùa hè thường đón
những cơn dông và mưa đá. Từ độ cao 600m trở xuống có
khí hậu nhiệt đới ẩm và chuyển dần đến kiểu khí
hậu Á nhiệt đới ẩm ở độ cao trên 600m. Tác động
của yếu tố biển vào khu vực rõ ràng, vào mùa hè vùng khí
nóng ẩm từ khe phía Tây gặp những luồng khí mát từ
biển thổi vào thường tạo ra hiện tượng quần tụ mây mù
quanh đỉnh núi gây ra những đợt mưa nhỏ cục bộ giữa
trưa hè, tạo nên vẻ lạ thường của tiết trời trên đỉnh
núi. A.1.4-
Một khu vực những địa cảnh độc đáo: Có
lẽ chỉ những người thợ rừng và kiểm lâm, những nhà
địa chất mới có điều kiện đến rừng khe đá gốc cây
trong núi Yên Tử để được biết hết sự đa dạng và bí
ẩn của địa cảnh núi yên Tử. Cũng bởi được kiến
tạo muộn từ thềm trầm tích cửa sông biển, trong khu
vực các vòng cung đứt gãy, cấu tạo địa chất của núi
Yên Tử bao gồm: Lớp cát trầm tích đá sạn kết, sỏi
kết, cuội kết từ tuổi cổ sinh; lớp đất feralit phát
triển trên sa phiến thạch và sỏi sạn kết với độ dày
trung bình 60cm: phía dưới là bể than Antraxit, có chỗ lộ
thiên hoặc bán lộ thiên, các vỉa than có bề dày hàng
chục mét. Tác động địa chấn đã tạo nên sự nứt gãy
mạnh mẽ lớp trầm tích sạn kết, sỏi kết và đẩy
chồi lên trên, khu vực từ 800m – 1068m có phổ biến các
tiểu cảnh chồng lớp xô trượt của các vỉa sỏi nứt gãy.
Các bờ sụt đứt gãy tạo thành những địa cảnh độc đáo
như: vực, thác và khe đá phân bố từ độ cao 400m – 800m
ở phía bờ nam. Các khe suối xô trượt lớp đá cuội và
sạn kết, nứt gãy thành những dòng đá chảy chồng lớp
từ trên đỉnh xuống dưới,
vượt qua những bờ thác, khi chảy xuống chân núi làm lộ
ra những lớp sỏi cuội lớn nhỏ trong thềm cát bồi tích.
Đặc biệt là ba đồng núi từ trên đỉnh xuôi dần xuống
thung lũng phía Nam và ôm vòng lấy Khe Hổ (Bãi Giải Oan)
tạo nên một bố cục đối xứng trong không gian làm cho hình
ảnh khi đến chân núi vừa kín đáo vừa trang nghiêm. A.1.5-
Hệ thực vật đa dạng và phong phú: Địa
danh Yên Tử nằm trong hai vùng khí hậu nhiệt đới ẩm và
Á nhiệt đới ẩm cùng với đặc điểm thổ nhưỡng đã nêu
trên tạo nên sự đa dạng sắc thái của nhiều họ loài
thực vật. Chế độ ẩm ở sườn phía Đông Nam được duy
trì cả trong mùa đông tạo nên sức sống cho rừng Yên Tử
bốn mùa xanh tốt, đan chen, nhiều loài hoa đẹp, lá đẹp
nở hoa thay lá theo mùa làm cho cảnh sắc rừng Yên Tử thêm
phần lãng mạn. Theo
kết quả khảo sát đã được công bố thực vật ở đây
có 4 ngành chủ yếu bao gồm: Thông đất, dương xỉ, hạt
trần và hạt kín thuộc 121 họ và 428 loài. Đáng chú ý
nhất ở đây là trung tâm phân bố của Táu mặt quỉ,
Táu muối. Sến mặt, Lim xanh, Chẹo (đây là những
loại cây gỗ quí hiếm ở Việt Nam), bên cạnh đó còn có
loài quí hiếm khác như Vù hương, Lát hoa, Giổi xanh … Ngoài
những loài cây quí hiếm trên rừng Yên Tử còn cung cấp
nhiều loại hoa đặc sản có giá trị làm nguyên liệu đồ
mỹ nghệ như: Song, Mây, Hèo, cho dầu ăn, dầu công nghiệp
(Sến, Dọc, Bứa), cho dầu thơm (Trám, Hương bài, Sau sau), cây
làm thuốc (sa nhân, ích mẫu,. Nhân trần, Hoài sơn…) A.2-
XÚC CẢM “THIÊNG LIÊNG” TRONG HÌNH THẾ VÀ SẮC MÀU: “Thiêng
liêng” đó là cái cảm xúc được hình thành bởi hai đặc
tính: “Tính tách biệt” và “Tính không thể xúc phạm”. Cũng
bởi có được hai đặc tính ấy mà người xưa đã làm tâm
đắc và xúc cảm đối với Yên Tử mà chọn làm nơ ẩn
giấu những ý niệm thiêng liêng. Tạm để sang bên cách nhìn
của biện chứng lịch sử và xã hội học với những tác
động và biểu hiện sự vật hiện tượng, tôi muốn gợi
đến sự phân tích
từ góc độ thần học đối với một không gian tâm linh tôn
giáo, để lý giải những tác động vào tâm thức và xúc
cảm của người xưa và sự
phản ánh những quan niệm trực quan đối với môi trường Yên Tử, những suy tưởng linh nghiệm
trước biểu hiện hoàn mỹ – mạnh mẽ và vô thường –
bí ẩn của thiên nhiên. Con
người không nhận thức sự “thánh thiêng” một cách
trực tiếp mà cảm nhận qua sự hiện diện xác thực của
nó, qua những biểu hiện cụ thể trong môi trường sống.
Nếu người ta muốn tìm cách nêu ra một ý tưởng về sự
thánh thiêng thì buộc phải nhờ đến khái niệm “huyền
diệu”. Biểu
hiện của “huyền diệu” là sự hình thành trạng thái
vật chất và các thông tin của môi trường tiếp cận tri
giác đang tác động đến cảm xúc, đại đến độ hoàn
mỹ vượt khỏi những lệ thức thông thường
của ý thức. Biểu hiện “huyền diệu” gây cho con người
một xúc cảm lưỡng cực cao độ: mê mẩn và kinh hoàng,
ngân ngất và kiếp sợ – Đó là những biểu hiện của cái
“hoàn toàn khác lạ”, điều huyền bí vừa cuốn vừa
chế ngự con người, mọi sinh linh khi tiếp cận đều cảm
thấy nhu cầu được hoà mình với nó vì
bị cuốn hút cám dỗ của những vẻ đẹp trần gian. Yên
Tử thời xa xưa khi được khai mở chắc còn cái vẻ đẹp
nguyên sơ và thiêng liêng ấy! Cho
đến hôm nay, dù bị con người và thời gian can thiệp làm
thay đổi phần nào, nếu tiếp cận Yên Tử trong sự tĩnh
lặng của môi trường và tâm thức, chúng ta chắc hẳn
vẫn nhận được trạng thái “siêu thực” và “huyền
diệu” bởi những hình – thể – sắc – màu của tạo
hoá. Nhưng trong những hành trình vội vã của nhịp sống
đương đại không còn mấy người đến với Yên Tử trong
cái tĩnh lặng ấy, đa phần cũng chỉ tiếp cận trong hội
hè khi tết đến, những râm ran náo động nơi cõi thiêng
– một không khí rất phồn thực dân gian bên cạnh sự yên
lặng xa dần của ý niệm và cảm thức một thời – cái
“thiêng liêng” của Yên Tử chỉ còn tồn tại như điều
“dị hoặc” trong những nghi thức tôn linh của tổ tiên
ngày càng huyền hoặc, khó nhận biết. Để
trở lại với “Cảm thức” của cha ông thuở trước, chúng
ta cần nhận thức và giữ
gìn hai thành tố : “Biểu cảm” và “Định cảm” vật
chất nằm trong môi trường thiên nhiên và “Định thức”
trong triết lý và ý niệm của người xưa. Thành
tố thứ 1: Các “Biểu cảm” của Yên Tử là: -
Sự hoàn chỉnh tự nhiê n của các yếu tố -
Cái đơn nhất và nhất thể của tự nhiên của
núi rừng -
Sự biến hoá sinh động của môi trường động
thực vật, khí hậu -
Sự khác lạ kỳ bí của hình thế và sinh hoá
tự nhiên. -
Sự cách biệt phi trần tục của không gian tự
nhiên và không gian xã hội. Cảm
nhận về “Cõi thiêng” ban đầu sẽ không thể tồn tại
trong tinh thần của chúng ta và thiên nhiên vẫn là một
thực thể nằm ngoài đời sống xã hội nếu thiếu đi sự
xuất hiện của “Thức”, Yên Tử lúc đó sẽ chỉ còn
rời rạc những di tích vật thể tách rời khỏi vẻ đẹp
vô hồn của thiên nhiên. “Thức”
được hiểu như hiện diện sử hiểu biết và ứng xử có
chủ đích của con người với sự vật hiện tượng,
thiếu đi của “Thức” cũng đồng nghĩa với việc cắt
đứt ngôn ngữ hiện sinh giữa con người với thế giới.
“Thức” là một biểu hiện cơ sở của văn hoá. Định
thức không gian của Yên Tử xuất hiện từ khi người xưa
chọn làm nơi thể
hiện đức tin theo quan niệm – triết lý – tư tưởng
đương thời: Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo và cả những
tín ngưỡng dân gian. Đến ngày nay những biểu hiện lịch
sử còn lại tại Yên Tử là điều kiện không thể thiếu
trong quá trình nghiên cứu bảo vệ giá trị di tích, nó sẽ
là một ngôn ngữ quan trọng để giải mã các thông tin
lịch sử của di tích. A.3-
NƠI GỬI GẮM Ý NIỆM VÀ ĐỊNH THỨC TRONG THẾ GIỚI QUAN
CỔ XƯA. Những
vận động lịch sử đã đưa con người đến với những
biểu cảm vật chất của thiên nhiên Yên Tử. Từ cách đây
khoảng 4500 năm, vùng đất này nằm trong khu vực Văn hoá
khảo cổ học Hạ Long. Thời Văn Lang, vùng Quảng yên ngày
nay theo cổ thư thuộc về Ninh Hải – một trong 15 bộ của
Quốc gia Văn Lang cổ đại của các Vua Hùng. Đây là một vùng
đất lịch sử lâu đời của Người Việt, là nơi cửa ngõ
đón nhận và chuyển hoá những ảnh hưởng Văn hoá từ hướng
biển vào tín ngưỡng Văn hoá dân gian truyền thống bởi
vị trí địa lý lịch sử đặc biệt (vùng cửa sông –
biển). Có lẽ còn nhiều nghiên cứu về những biến
chuyển Lịch sử Văn hoá tư cổ đại đến cận đại tại
vùng đất lịch sử này bởi những đặc điểm địa lý nhân
văn nổi bật của nó. Có
thể nhận thấy biểu hiện tương đối rõ nét những tư tưởng,
triết lý, tín ngưỡng, của nhiều giai đoạn lịch sử
trong các dấu vết ứng xử với không gian thiên nhiên tại
Yên Tử. A.3.1-
Biểu hiện định thức không gian của văn hoá tín ngưỡng
dân gian: Người
Việt Nam từ thời nguyên thuỷ đã sớm nảy nở những tín
ngưỡng văn hoá Thiên nhiên, tôn thờ những hiện tượng
thiên nhiên có tính khởi sinh. Triết
lý “Mẹ sinh”, buổi đầu là Mẫu Ỷ-La còn gọi là
“Mẹ Thượng Ngàn” sau này ứng với giai đoạn văn hoá nông
nghiệp thì biến thành
“Mẫu” – Mẫu Thuỷ, Mẫu Địa, Mẫu Thiên… Dân tộc Mường
còn lưu truyền khởi tích mạnh huyền bí trong thiên nhiên
như: mây, mưa, sấm, chớp, núi, sông … tín ngưỡng Mặt
trời còn thấy từ thời văn hoá Đông Sơn, rồi chuyện Aâu
Cơ – Lạc Long Quân, truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh … đều
thể hiện niềm niềm tin vào sức mạnh tuyệt đối của
giới tự nhiên – thiên nhiên được coi như Người khởi
sinh dân tộc. Các loài vật cũng trở thành biểu trưng linh
nghiệm của thiên nhiên trong đời sống tinh thần dân gian,
hình ảnh các loài
vật linh hiện còn lưu tích ở nhiều nơi thờ tự dân gian
như: Trâu, Chó, Voi, Long, Ly, Qui, Phượng… Một
đặc điểm nổi bật trong ứng xử truyền thống của Người
Việt là thới quen chuyển hoá những ý niệm trừu tượng
thành những biểu trưng vật thể, ứng nghiệm trong thế
giới tri giác, để rồi từ thế giới tri giác – biểu tượng
ấy trở về với sự phát huy bản năng trừu tượng, suy tưởng
không giới hạn. Tập
hợp những hình ảnh trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam cổ
xưa ta có thể tái hiện một không gian biểu tượng tri giác. Những
ứng nghiệm có tính chất biểu tượng còn tồn tại trong
không gian vật thể của Yên Tử, chuyển hoá những ý niệm
siêu hình của tôn giáo thành những hình ảnh – biểu tượng
trực quan và đó là lăng kính văn hoá dân gian khi tiếp
thụ tư tưởng – Văn hoá thu nhập. A.3.2-
Biểu hiện định mức không gian của Đạo giáo: Nằm
trong vị trí địa lý chịu ảnh hưởng trực tiếp những
biến động lịch sử – văn hoá từ phương Bắc trong
suốt giai đoạn lịch sử cổ đại, Yên Tử như còn lưu
lại dấu vế ứng xử của vũ trụ quan và tư tưởng Lão
– Trang. Một
vùng không gian hoang sơ trên đỉnh núi, nơi thiên nhiên
biến đổi bất thường như đã từng được các Đạo gia
thuở trước đặt cho định thức một cách trực quan ý
niệm về “Đạo” – không gian tĩnh lặng, trường tồn,
khởi sinh – ứng nghiệm
với ý nghĩa vô hạn về thời gian và không gian trong sự
vận động vĩnh hằng của cái “Thường vô” và “Thưỡng
hữu”. Một vùng thiên nhiên hiểm trở và bí ẩn như
tách biệt cái ý niệm “Tĩnh lặng” tuyệt đối đó
khỏi cái “Động” và “Vô thường” của vạn vật
với qui luật phát sinh, phát triển và tiêu diệt của chúng
và cũng chính sức hút của thiên nhiên hoang sơ đến siêu
thực ấy đã lôi cuốn các Đạo sĩ tìm kiếm con đường
“Phục mệnh” trở về với sự trường tồn, trở về
với “Đạo”, thoát ly khỏi trần gian, mà những tưởng
chốn “Bồng lai tiền cảnh”. Tượng
“Người hoá Đá” tự nhiên trên núi Yên Tử như hình
ảnh phục mệnh trở về với sự trường tồn tĩnh lặng
của Đạo. Phải chăng từ phía bên kia của cái “Thường
vô” ta có thể hiểu nghĩa của bức tượng là “Đá hoá
Người”. Sự
giao hội trực diện từ thửa Aâu Lạc với nền văn hoá
Trung Hoa trong lịch sử cổ đại diễn ra sớm hơn ảnh hưởng
ban đầu của Phật giáo Aán Độ, điều đó như lý giải
cho những giả thiết về Đạo sĩ có tên An – Kỳ –Sinh
đã đến đây tầm Đạo. Nhưng theo tôi, 3 chữ Hán này không
nên hiểu chỉ là tên một nhân vật mà hoài công tìm kiếm,
hàm nghĩa của các chữ đó đã như một thông điệp về không
gian của “Đạo” theo thế giới quan của Lão: An (Yên) –
nghĩa gốc là an định (yên lặng); Kỳ – nghĩa gốc là
Cờ, kỳ đài ( một hình ảnh mang tính ký hiệu, định
giới hạn): Sinh – nghĩa gốc là sinh trưởng (hình tượng
ban đầu như mầm mới nhú khỏi mặt đất) (Theo “Tìm vê
cội nguồn chữ Hán” – Lý Lạc Nghị). Hợp nghĩa 3 chữ
như ý nghĩa về sự khởi sinh nơi tĩnh lặng trường tồn
– không gian của ý niệm tuyệt đối về “Đạo” –
Theo Lão. Một
định mức trong không gian như hình thành rõ nét ứng với tư
tưởng triết lý Đạo giáo. Ngôn ngữ để tiếp cận với
định thức này là biểu hiện thiện nhiên. Luận thức
của không gian là luận thức mang màu sắc thần bí của
khoa Phong Thuỷ – một sản phẩm hội tụ thần bí của
cả triết lý Nho –Đạo Trung Hoa cổ đại, được các Đạo
sĩ ứng nghiệm tại Yên Tử (xin trở lại phần sau). Có
thể nhận thấy dấu vết của hai vùng cơ bản: Vùng
Đại cảnh từ Cổng Trời trở xuống trải rộng cả một
vùng thị giác rộng lớn được ước định theo các quan
niệm Phong Thuỷ cổ xưa. Từ
Cổng Trời trở lên là phần khởi nguyên của Sơn mạch,
Long mạch, là nơi “Cõi tiên” – “Cõi đạo” – “Cõi
trường sinh” trong ý niệm của các Đạo sỹ , được
biểu tượng hoá bằng một logic cấu trúc vật thể thiên
nhiên: Cổng Trời – An Kỳ Sinh – Chợ trời – Bàn cờ tiên
(nay là khối đá đặt Chùa Đồng cũ). Ta có thể bắt gặp
những hình ảnh dị bản của ý niệm này ở một số địa
danh cổ tích khu vực Bắc Bộ nằm trong các địa bàn lịch
sử từ thời Bắc thuộc như Núi Phật Tích, núi Chùa Thầy…
Nhiều thế kỷ qua, chưa thấy một cổ thư nào còn lưu
chuyện kiến tạo pho tượng và cổng trời, bàn cờ tiên,
chợ trời, nhưng theo tôi dự đoán thứ nhất có thể là
những dấu ấn của các Đạo sĩ được để lại đầu thiên
nhiên kỷ thứ nhất (khoảng TK I –IV) mang tính dân gian
Việt cổ và hàm nghĩa còn mang tư tưởng Lão của Đạo giáo
Thần tiên (Năm 42, Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ ngoài
việc dẹp khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn để nhiều thời gian
tìm kiếm các mỏ thần sa. Đời Đông Tấn, 326-334, Cát
Hồng từ chối chức tước do triều đình tân phong xin sang
làm tri huyện ở Câu Lậu – Hải Hưng để tìn sàn sa
luyện thuốc) (Theo “tìm về bản sắc văn hoá dân tộc
Việt Nam” Trần Ngọc Thêm). Dự đoán thứ hai là các
Thiền Sư đã đem theo tư tưởng của Lão mà định thức
trong không gian Phật giáp vào giai đoạn hình thành và
Thiền phái lớn ở Việt Nam thế kỷ VI –XII Để
có thể kết luận phụ thuộc việc xác minh niên đại vật
thể của bức lượng An Kỳ Sinh – Bia Phật. Những
câu chuyện còn lại trong dân gian đến ngày nay như huyền
thoại về “An Kỳ Sinh tu tiên”, hay “An Kỳ Sinh đến tu
và lập chùa nên gọi là Yên Tự rồi sau gọi lạc thành Yên
Tử”,… mơ hồ về cả một vườn thuốc huyền thoại và
sự trong giai đoạn biến chuyển của tư tưởng triết học
Trung Hoa về sau, với sự ảnh hưởng lẫn nhau của Phật giáo
– Đạo giáo – Nho giáo trong quá trình tác động đến không
gian Văn hoá cận đại Việt Nam. A.3.3-
Biểu hiện định thức không gian Phật giáo: Quan
niệm về không gian của Phật giáo Aán Độ từ thuở ban đầu
là: “Tam giới” và “Tam thiên Đại thế giới”, khi phát
triển sang phía Đông cũng được thay đổi ít nhiều. Bản
sắc truyền thống và tính dân tộc của bản địa đã đồng
chất hoá Phật học với những tư tưởng triết lý cổ đại
đã ăn sâu bám rễ lâu đời. Giai đoạn đầu khi Phật giáo
vào Trung Hoa, hệ tư tưởng – Triết lý Lão – Trang đã là
cơ sở cho sự chuyễn hoá, bản địa hoá những khái niệm
và phạm trù Phật học. Từ
những nhận định trên, có thể tiền định rằng: Ví như,
có một định thức không gian ước lệ tri giấc nào đó
của Phật giáo lại Yên Tử thì cũng có thể thấy sự
xuất hiện đâu đó hình ảnh liên tưởng tới tư tưởng
của Lão và màu sắc của những triết lý phương Đông khác. Điều
đó thể hiện sức biến siêu phàm của Phật giáo bởi quan
niệm không gian và thời gian vừa mở vừa liên tục của nó. Chúng
ta đã ghi nhận Phật giáo vào Việt Nam từ thế kỷ thứ
II… Cho đến thế kỷ VI, Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào Việt Nam
lập ra dòng Thiền đầu tiên (Năm 580), dòng Thiền này là
sự kết hợp Thiền – Mật mang ảnh hưởng của Phật giáo
Ấn Độ. Năm 820, Vô Thông Ngôn sang Việt Nam lập nên phái
Thiền thứ 2, đây là Thiền phái của Trung Hoa, đặc trưng
của nó là sự kết hợp giữa Thiền với Lão. Thiền
phái thứ 3 được lập nên ở Việt Nam là Thiền phái của
người Việt Nam có tên là Thiền phái “ Thảo Đường”
do Vua Lý Thánh Tông (1054 – 1068) khởi lập tại Chùa Khai
Quốc – 1069, dòng Thiền này biểu hiện sự kết hợp
giữa Thiền – Tịnh nhờ ( Nhà sư Thảo Đường bị bắt
tại Chiếm Thành được Vua Lý Thánh Tông giải phóng và cho
mở Đạo trường) Điều
đáng lưu ý ở đây là sự hình thành dòng Thiền thứ 3 có
sự chủ định của Nhà Lý. Ý muốn xây dựng riêng một
hệ tư tưởng và triết lý. Thực sự khẳng định cả
quyền lực vật chất và tinh thần, loại dần tư tưởng hướng
ngoại suốt nhiều thế kỷ bị đô hộ là rõ ràng. Suốt
thời gian cai quản đất nước (1009 – 1255) các Vua Lý đã
đưa Văn hoá Phật giáo vào đời sống tinh thần của Đại
Việt , phát triển sâu và rộng khắp các miền đất nước.
Phật giáo Nhà Lý với ý thức sớm về độc lập dân tộc
đã như đặc những viên gạch nền móng cho sự toả sáng
của nền Văn hoá Phật giáo Đại Việt thời Trần. Cũng không
thể không kể đến đóng góp to lớn về Thiền học của
Vua Trần Thái Tông trong giai đoạn lịch sử chuyển giao từ
Phật giáo Nhà Lý đến Phật giáo nhà Trần mà tụ hội
toả sáng là sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
với vị Vua – Phật – anh hùng dân tộc Trần Nhân Tông. Câu
chuyện lịch sử về Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) trốn
lên núi Yên Tử với Phù Vân Quốc Sư cho thấy vị thế
của cõi Thiền Yên Tử vào đầu thế kỷ XIII đã được
kháng định với một vị Quốc Sư cai quản. Liệu
có thể hình dung là Yên Tử có một quan hệ trực tiếp
với hoạt động Thiền học ở kinh đô từ thời Nhà Lý ?
Vậy thì hình ảnh của Thiền phái “ Thảo Đường” tới
Yên Tử có thể từ thế kỷ XI và “Cổ nhân” đã đặt
những định thức cho “ Cõi Thiền Yên Tử” là thời điểm
lịch sử này, sau này Tổ Phái Thiền Yên Tử là Thiền Sư
Hiện Quang (…- 1221) đã hội tụ cả 3 phái Thiền trong định
thức không gian ấy ? Sự
vận động lịch sử phức tạp trên một địa điểm lịch
sử dĩ nhiên để lợi những tầng lớp
thông tin xáo trộn. Ta có thể nhận thấy cả dấu
hiệu của Đạo giáo Thần Tiên mang tư tưởng Lão (Tượng
An Kỳ Sinh – Bàn cờ Tiên). Cả dấu hiệu củ Tịnh độ Tông
(Chữ Bia Phật : Adi Đà Phật ) và cả biểu hiện triết lý
Thiên – Nhân (Cổng trời, Chợ trời…) của Nho giáo. Sự
biểu hiện hỗn hợp của các biểu tượng tư tưởng cả
Tịnh – Lão – Nho – Thiền trong cùng cấu trúc không gian
từ Cổng trời lên đỉnh Yên Tử có vẻ như phù hợp hơn
cả với tư tưởng Thiền học Việt Nam thời Lý – Trần và
phải chăng là ý niệm của sự hợp nhất các Thiền phái
để thực hiện mục tiêu xây dựng thống nhất một tư tưởng
triết lý độc lập Đại Việt suốt từ khi Lý Thánh Tông
lập phái Thảo Đường đến khai lập cỏi thiền Yên Tử vào
giai đoạn cuối của Triều Đại Nhà Lý. Đến
đây, tôi thiết nghĩ chỉ có một chiếc chìa khoá nhỏ để
mở ra cánh cửa lịch sử còn ẩn giấu
mà các học giả đã mất nhiều công luận bàn nghi vấn,
nhiều tác phẩm về Yên Tử đã để lại lòng người sự
huyền hoặc về quá khứ – đó là xác định niên đại
vật thể cho di vật Bia Phật và Tượng An Kỳ Sinh. Cho
dù là có sự ảnh hưởng nào thì Yên Tử vẫn là một không
gian cố định thức Phật giáo mang màu sắc của Việt Nam,
nó gộp cả các quan niệm tri gíac dân gian và các triết lý
du ngoại chuyển hoá vào triết lý không gian Phật giáo.
Những biểu hiện của nó bao gồm : -
Không gian Dục giới : được biểu trưng vật
thể và hướng ngoại -
Không gian sắc giới : được biểu trưng vật
thể tụ về trung tâm -
Không gian vô sắc giới : siêu hình, không tiếp
cận được. Toàn
bộ cấu trúc siêu hình này được biểu trưng hoá vật
chất trong khu vực Yên Tử. Biểu
Tượng cho ý niệm tuyệt đối “ Vô sắc giới” là sự
xuất hiện hình ảnh chuyển hoá qua lăng kính dân gian đó là
Nhân – Phật (Vua Trần Nhân Tông) – đã nhập Niết Bàn
tại Yên Tử, hoặc hình ảnh Tổ Hiện Quang hoá mây ngũ
sắc trên đỉnh Vân Tiêu trong lưu truyền dân gian. Không
gian “ Sắc giới" được ước định theo quan niệm không
gian Thiền định của Thiền học ứng với những đặc điểm
tự nhiên của Yên Tử, thể hiện cả tư tưởng của Lão
– Nho – Tịnh. Nơi các Thiền Sư tu hành là vùng cảnh quan
đẹp nhất của Yên Tử, trung tâm của dãy núi, có suối, có
thác, có khe đá, vách đá, thực vật muôn màu, thanh minh sáng
sủa, thoáng đãng và ẩn giấu. Là cõi bồng lai – là vùng
đất lành – là ngưỡng cửa trời không giới hạn, ly
trần. Không gian Sắc giới ở đây vừa hữu hình vừa siêu
hình bởi phân nửa là hiện sinh của cuộc sống tu hành và
phân nửa là tâm thức khi Thiền định – nhập Pháp. Định
giới của không gian này như đã được sắp đặt có chủ
ý, có biểu hiện nghi thức và biểu tượng. Ta chỉ có
thể nhận thấy còn lại dấu tích của các Thiền sư nơi
Am, Động, Chùa,Tháp từ mỏm Vân Tiên xuống đến Hòn
Ngọc (những di tích, di chỉ từ thời Trần về trước)
dọc theo dòng núi chính và hai nguồn nước suối dọc theo
khe núi tả hữu có nhiều vách đá, khe đá, u tịch mát mẻ.
Các địa danh lưu lại trong khu vực này đến nay chỉ còn :
Vân Tiêu, Bảo Sái, Ngoạ Vân (?). Thanh Long Động (Alột Mái).
Vân Yên (Hoa Yên). Phổ Đà (?). Thác Ngự Dội. Thác Tử (?).
Am Tử Tiêu (?) đó là những nơi có tích thời Trần. Trong
quá trình khảo sát 5 năm tại Yên Tử, tôi được nhiều
thợ rừng đưa đến những nền đất cũ đã bị cây rừng
phủ lấp khó nhận biết, những phiến đá phẳng chênh vênh
như có sự sắp đặt nơi toạ Thiền…Có lẽ đó là
những Am Thất sơ sài của các Thiền sư mà ngày nay các nhà
nghiên cứu không còn quan tâm ? Tất cả như minh chúng sự
quần tụ của các Thiền sư trên khu vực trung tâm đông núi
chính giữa (Tổ Sơn – Theo Phong thuỷ) quần tụ quanh Chùa
Vân Yên. Sự
phân biệt về không gian Sắc giới được thể hiện bằng
các Ngưỡng tiếp cận của nó với các không gian “Dục
giới”. Ngưỡng
phía nam – từ dưới đi lên – không gian nhân thế, ta
phải qua chín cửa suối tính từ Chùa Lân – Làng Nam Mẫu
(con suối được đặt tên Giải Oan). Có lẽ Chùa Lân xưa
kia là Chùa ngoài – Chùa Trình, tiền trãm cho những giao
tiếp cõi Thiền. Vượt qua “Chín suối” thì đến Chùa
Giải Oan (Một số ý kiến cho rằng được xây dựng sau
thời Trần), lối cũ lên núi rẽ tay phải vào chính đỉnh
đông phía dưới đi lên, tiếp đến đoạn lưng núi thì qua
Đường Tùng, đến Hòn Ngọc, Đường Tùng chính là hành
lang nghi thức thiên nhiên phía trước Chùa Vân Yên, Hòn
Ngọc chính là giới ngưỡng qui ước (một huyện địa theo
Phong thuỷ?). Ngưỡng
phía Tây là khe vực sâu của kiến tạp đứt gãy và nâng
yếu địa chất được coi như Phương Ngã Quỷ. Ngưỡng
phía Đông được coi như không gian của Súc Sinh - là rừng
rậm, phù hợp với địa thế xuôi dần về cánh rừng phía
Đông và xuống đồng bằng ven biển. Ngưỡng
phía bắc (phía trên) như không gian của Thần Linh được
giới hạn từ mỏm Vân Tiêu đến Cổng Trời. Đó
là 4 Đại Châu ở tầng giữa (Cõi người) của Dục giời. Tầng
dưới của không gian Dục giới theo quan niệm
Phật giáo là “Địa Ngục” phải chăng cái tên Thác
Tử xuôi xuống Suối Giải Oan với Chín cửa đã là biểu
trưng của đường qua 8 ngục(?). Tầng
trên của không gian Dục giới là “Lục dục Thiên” (6
trời) như được cùng biểu trưng với ý niệm Đạo giáo và
Nho giáo về sự tồn tại của cõi Thần Tiên, cõi Trời (Ngọc
Hoàng Thượng Đế), được ước
định giới hạn từ Cổng Trời trở lên. Bia
Phật được dựng nên trong không gian này là biểu hiện
sự định vị có tính hướng “thiên” của “Phật”
trong thế giới quan
của các Thiền sư Đại Việt. Lựa chọn không gian từ
Cổng Trời lên đỉnh núi mây – mưa bao phủ quanh năm, các
Thiền sư đã hội cả những ý niệm tuyệt đối của Lão
– Nho – Tịnh vào một định thức không gian của Thiền. A.3.4-
Biểu hiện của cách nhìn Địa lý Phong Thuỷ: Với
cách nhìn của xã hội hiện đại với Thuật Phong Thuỷ thì
đây là một biểu tượng mê tín cho dù phần nào cơ sở
luận thuyết này cũng dựa vào những giá trị Triết học
biện chứng sơ khai của Phương Đông cổ đại. Tuy
vậy, từ góc độ Văn hoá lịch sử không thể phủ nhận
Phong Thuỷ trong lịch sử từ cổ đại đến cận đại đã
là một hiện tượng phổ biến trong đời sống nhân văn
của Trung Hoa và Việt Nam. Phong thuỷ tồn tại như đồng
thời cùng sự vận động của các luồng tư tưởng, triết
lý, tôn giáo khác và đã trở thành một tín ngưỡng độc
lập phi tôn giáo, một khoa học ứng nghiệm sơ khai. Theo
tôi cái ý nghĩa đáng nói ở đây là: Nếu Phong Thuỷ đã
từng là phương tiện, là quan điểm để quyết định sự
sắp đặt vật chất trong không gian (cả khi sống – khi
chết) và là một đức tin của người xưa thì nó chắc cũng
sẽ là một ngôn ngữ tuyệt vời để chúng ta giải mã
những thông tin quá khứ trong không gian ấy, nhất là với
một không gian tâm linh. Mặt khác, dĩ nhiên đó là một
hiện tượng Văn hoá. Dấu
vết của quan niệm Phong Thuỷ (Thanh Ô Thuật) còn được
ghi nhận từ Đời Chu (1134-247.TCN), trả qua suốt thời kỳ
phát triển cổ đại được bổ sung vào luận giải những
quan điểm, vũ trụ quan của các học thuyết tiên khởi. Vào
Đời Lưỡng Hán, Nho học trở thành một Thuật số gắn
liền với việc xem Thiên Tượng.
Đến đời Nhà Đường Phong Thuỷ đã trở nên cực thịnh. Thuật
Phong Thuỷ được sử dụng phổ biến trong cả không gian
của Đạo giáo và Phật giáo trong quá trình ảnh hưởng
của Văn hoá cổ đại Trung Hoa vào Việt Nam, với sự hội
tụ của cả tư tưởng Đạo giáo – Phật giáo – Nho giáo. Nếu
thiên về giả thiết sự xuất hiện của Đạo giáo Thần
Tiên ở Giao Châu từ TKI – TKIV thì Yên Tử có thể đã
được các Đạo sĩ lựa chọn bởi các biểu hiện đặc
biệt của tự nhiên theo cách nhìn Địa lý và Thiên Tượng
lúc đó. Ta
cũng không bỏ qua sự ảnh hưởng có tính trực tiếp từ
Phúc Kiến và Giang Tây là hai trung tâm nổi tiếng về
thuật Phong Thuỷ, về địa lý tiếp giáp và đặc điểm
tự nhiên Sơn – Thuỷ có nét tương đồng với đất Giao
Châu. Đến
giai đoạn sau này, trước khi Yên Tử được các Thiền sư
lựa chọn làm “Cõi Thiền” thì Yên Tử đã trở thành
“Một trong bốn nơi phúc địa của đất Giao Châu.” Theo
con mắt của các nhà địa lý phương Bắc. Xem
xét địa lý cảnh quan của Yên Tử bằng các kỹ thuật
khoa học hiện đại ngày nay, từ bản đồ không ảnh và địa
chất thuỷ văn ta không khỏi cảm phục cách nhìn sâu sắc
hoàn toàn tri giác của các cổ nhân. Loại sang bên những
mặc cảm mê tín, ta có thể thấy sự độc đáo đến
tuyệt vời của địa thế Sơn –Thuỷ của Yên Sơn tác động
mạnh mẽ đến xúc cảm Thiện
- Mỹ của con người. Xin
lược qua đôi nét của Đại Cảnh Yên Tử theo quan niệm cơ
bản về Phong Thuỷ. a-
Biểu hiện hoàn chỉnh của Ngũ Quyết (Long, Huyệt,
Sa, Thuỷ, Hướng): Long
là mạch của núi, sự phát triển biến điệu của Mạch
từ nơi khởi nguyên gọi là Khí mạch – có chín Long thế.
Xem biểu hiện địa thế của núi Yên Tử ta thấy cảnh địa
lý rất rõ ràng, nếu gãy địa chất kiến tạo đột ngột
từ trên cao 1068m cho ta cảm quan một nét đông núi như từ
trên mây trời sà xuống, chập chùng uyển chuyển xuôi dần
về phía nam. Liệu có thể đây là thế Giáng Long? Huyệt
là Âm huyệt và Dương huyệt, Huyệt được nhận biết
bởi nhận xét hình thái của Long và Hà Lưu (Thuỷ) là nơi
Vượng Khí. Tại Yên Tử, những tháp mộ và Chùa chính từ
thời Lê về trước đều tập trung trên động núi chính (Tố
Sơn), các dấu hiệu định mức không gian rất rõ theo một
quan niệm về hướng, về thế -
phải chăng đó là sự lựa chọn địa huyệt theo
những luận giải Phong Thuỷ khác nhau. Sa
là Tiểu Sơn (núi nhỏ) ở quanh Chủ Long, Sa bên tả gọi là
Thanh Long, Sa bên hữu là Bạch Hổ. Sa phía trước là Huyền
Vũ, Sa phía trước nếu gần gọi là Aùn Sơn, nêu xa gọi là
Triều Sơn, Đỉnh Yên Tử là khởi nguồn của ba động núi,
động núi phía đông hiện còn phế tích Am Dược. Am Hoa
ứng theo quan niệm Phong Thuỷ là Thanh Long, chia Một Mái
hiện còn bên tả chùa Hoa Yên trước đây đã được gọi
là Thanh Long Động, phải chăng là dấu vết của quan niệm
xưa. Động núi chính giữa
là Tổ Sơn, Tổ Long phát triển địa thế cao hơn xuôi
xuống cùng thung lũng, hiện còn lại toàn bộ các Chùa –
Tháp chính của Yên Tử. Hai bên Sa Sơn bao bọc thấp dần như
thế tay Ngài, theo Phong Thuỷ thì thật đắc địa. Thuỷ
là dòng nước (Hà Lưu) chảy theo Sơn mạch. Thuỷ khẩu là
khởi nguồn dòng nước. Thuỷ hành là hình thái dòng chảy,
nếu nước theo núi mà chảy và núi chặn nước dừng lại,
hình thái uốn lượn lưu luyến thì thật hài hoà sinh khí.
Các mạch nước đổ xuống lưu thuỷ thì tốt gấp vạn
lần một biển nước ở xa. Nhìn vào thuỷ văn Yên Tử, ngày
nay ta còn thấy hai mạch suối phía Đông và phía Tây của
hệ suối Giải Oan uốn khúc qua các mạch đá mẹ đổ
xuống thung lũng bãi xe Gải Oan đều tụ lại trên một
trảng đất thấp trải rộng. Chúng tôi khảo sát thổ nhưỡng
thì vùng này là vùng hồi tích mùn đất rừng, ngập nước
do bồi tụ lâu ngày mà bị nâng dần hiện um tùm những loài
cây ưa nước – có lẽ trước đây đã tồn tại một đầm
nước lớn dưới chân núi gọi là Khe Hổ (được coi như
Minh Đường), Sư Tổ Tháp Loa còn ghi lại hình ảnh mặt nước
Khe Hổ: “…
Động rồng nắng đã rọi Khe
Hổ băng còn dày…” Hướng
của Phong Thuỷ là hướng phát triển của Long Mạch, Phương
Nam trong tâm thức dân gian Trung Hoa cổ đại và Việt Nam đều
là biểu trưng của sự sinh sôi tốt lành cũng bởi những
cảm nhận tương đồng về biểu hiện tự nhiên. Thế của
các dông núi Yên Tử đều đổ về phía Nam, xa xa là một vùng
trời biển và những dòng sông lớn uốn khúc đổ ra cửa
Bạch Đằng, thoáng đãng và không giới hạn. Ta có thể hình
dung sự giao hoà tuyệt vời của Trời – Đất, của Thiên
khí và Địa khí tại Yên Sơn, Cái vùng Phúc địa đó là
cả môi trường cận cảnh và viễn cảnh. b-
Biểu hiện định thức không gian: Dựa
vào địa thế tự nhiên, tôi thử biểu kiến sơ đồ không
gian cơ bản của Yên Tử theo cách nhìn Phong Thuỷ: -
Tổ Sơn: Động núi chính từ đỉnh Yên Tử
xuống bãi xe Giải Oan -
Sa Sơn: Thanh Long – Bạch Hổ, hai động núi đông
và tây ôm xuống thung lũng Giải Oan (Khe Hổ) và kéo đến
tận cánh đồng Nam Mẫu dọc theo Khe Cái. -
Án Sơn: Theo hướng nam chếch đông 150, đông chính
Tổ Sơn thẳng chiếu đỉnh cao điểm núi Tổ của chùa Lân,
đây có thể coi như Tiền Aùn. -
Triều Sơn : Dãy núi phát triển ngang theo hướng
Đông – Tây phía nam cánh đồng Nam Mẫu. -
Minh Đường : khu vực thung lũng Khe Hổ (từ dốc
Hạ Kiệu trở vào chân núi) là Tiểu Minh Đường. Khu
vực cánh đồng Nam Mẫu trước đây có thể là Đại Minh
Đường khi còn ngập nước chưa hồi tích. -
Hậu Chẩm : Cao điểm sau đỉnh Chùa Đồng cùng
đỉnh đông Yên Tử. Nếu
nghiên cứu sâu hơn về các quan niệm Phong Thuỷ đã từng lưu
truyền trong các giai đoạn lịch sử, chắc chắn chúng ta có
thể luận giải nhiều dấu vết lịch sử của khu di tích Yên
Tử mà hiện còn ẩn dấu. Cũng bởi tín ngưỡng với Phong
Thuỷ mà Yên Tử đã trở thành một trung tâm Tháp – Mộ,
nhất là vào đời Lê. Tôi
cho rằng việc nghiên cứu các phương án tôn tạo các không
gian kiến trúc lịch sử ở Yên Tử trong bối cảnh các di tích
vật thể bị xáo trộn mất mát nhiều cần dực vào các
kiến thức cổ xưa này để định thức, hai khu vực hiện
nay đang dự kiến xây dựng lại là Vân Tiêu và Hoa Yên đều
rất cần sự thận trọng với những nguyên tắc định
thức không gian xưa. Trong
một ý kiến gần đây nhân hội thảo xây dựng chùa Hoa Yên,
tôi có mạo, tôi có mạo muội bày tỏ với các học giả
rằng: “Chùa Yên Tử không thể giống với định mức
của chùa Làng Việt – nơi mà đã hội tụ rất nhiều
dạng thức của văn hoá dân gian khác. Yên Tử là nơi khai
mở những quan điểm triết lý khác dẳn với những nơi
được định lập bở nhu cầu tinh thần văn hoá cộng đồng”. B-
KIẾN NGHỊ: Quan
cách tiếp cận giá trị Văn hoá lịch sử của Yên Tử như
trên, tôi xin bày tỏ những kiến nghị trước ngưỡng cửa
những can thiệp vào khi di tích thiêng liêng này: 1-
Cần có một hoạch định ngưỡng giới cho không gian
di tích theo ý nghĩa Địa linh của Yên Tử phù hợp với
Cảm thức truyền thông, gìn giữ tính Nghi thức của một
không gian Phật giáo có lịch sử lâu đời nhất của Đất
Nước. 2-
Bảo vệ những thông tin còn tiềm ẩn trong không gian
tự nhiên của Yên Tử mà hiện tượng như không có dấu
vết. 3-
Tập trung nghiên cứu Phi vật thể và tiến hành khảo
cứu từng bước thực địa bởi sự tham gia đầy đủ
của các ngành khoa học liên quan trước khi can thiệp vật
thể vào di tích. 4-
Cần quản lý và chỉnh lý một số thông tin không
được xác minh căn cứ khoa học hiện đang tồn tại trong
di tích như: Địa danh, cổ vật, di chỉ, huyền hoặc trong dân
gian… 5-
Tập trung xây dựng một phương pháp nghiên cứu và
ứng xử phù hợp với đặc điểm đặc biệt của Yên Tử. 6-
Cuối cùng, cần quan niệm đối tượng giá trị bảo
tồn là: Một cấu trúc hoàn chỉnh của các yếu tố tự
nhiên và tác nhân lịch sử. Xin
chúc hội nghị thành công tốt đẹp! Tháng
6 năm 2001 |