|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
TRẦN
NHÂN TÔN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
VUA BỤT |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
TƯ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
GS. Nguyễn Duy Hinh |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Trần
Nhân Tôn là VUA, là BỤT, điều đó đã rõ. Nhưng là VUA –
BỤT hay là BỤT – VUA thì nghiên cứu sâu hơn nữa. Đã có
một thời gian dài giới Sử học đã biết đến một Trần
Nhân Tôn – VUA, còn giới Phật giáo thì chỉ biết một
Trần Nhân Tôn – BỤT. Đối chiếu những tư liệu trong Đại
Việt Sử ký toàn thư với Tam Tổ thực Lục thì ra cũng
thấy ngay hiện tượng Sử thì chú trọng những hoạt động
chính trị, còn Lục thì chú trọng những hoạt động tôn
giáo, tức là Sử phản ảnh phận Đời, Lục phản ảnh
phần Đạo của cùng một con người Trần Nhân Tôn để
nghiên cứu tư tưởng và hành động của ông là một điều
cần thiết để khôi phục lại con người cụ thể thực
tế và toàn diện của Trần Nhân Tôn. Theo
Đại Việt Xử lý toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì cuộc đời
Trần Nhân Tôn chia làm 3 giai đoạn, gói ghém 18 chữ thật cô
đọng : “Nhân Tôn ở ngôi mười bốn năm. Nhường ngôi năm
năm, xuất gia tám năm, thọ năm mươi mốt tuổi”. Trong
thực tế thì cuộc đời Trần Nhân Tôn có thể chia làm 7
giai đoạn : làm thái tử, làm vua có thái thượng hoàng, làm
vua không có thái thượng hoàng, đi tu khổ hạnh, đi thuyết
pháp và những ngày cuối cùng. Dưới
đây lần lượt đi sâu nghiên cứu từng giai đoạn. Giai
đoạn 1 : (năm 1258 – 1278), là thời kỳ niên thiếu học
tập để chuẩn bị làm vua. Trong các vua Trần thì duy nhất
chỉ Trần Nhân Tôn giới Sử ghi nhận có tướng lạ, da vàng
và nốt ruồi bên vai trái.Từ đó đưa ra hai suy đoán : Kim
Tiên đồng tử xuống trần và tương lai có thể cáng đáng
được việc lớn. Lục thì ghi là Kim Phật (Bụt vàng) và
ghi việc mẹ vua Trần Nhân Tôn nằm mơ thấy thần ban thanh
kiếm, thọ thai sinh ra Nhân Tôn. Sử ghi sự kiện danh kiếm
đầu thai cho Thánh Tôn (cha Nhân Tôn) còn chỉ ghi Nhân Tôn
được tin anh của thánh nhân. Tuy ghi chép khác nhau chút ít
do lập tá tác giả đó khác nhau, nhưng thực tế đều
phản ảnh ngay từ thời Trần đã có huyền thoại từ cội
nguồn siêu nhân của Nhân Tôn và Thánh Tôn để minh giải và
ca tụng chiến công hiển hách của hai nhà vua này. Riêng đối
với Nhân Tôn thì huyền thoại đã phản ảnh cả chất Vua
– anh hùng lẫn chất Bụt – cứu thế cho nên vừa có mô
típ kiếm vừa có mô típ da vàng. Cả Sử lẫn Lục đều
thừa nhận Thánh Tôn mộ đạo Phật nhưng trong huyền
thoại của ông chỉ có mô típ nào khác biểu tượng Bụt.
Huyền thoại đã rất khách quan : Thánh Tôn chỉ là một tín
đồ phật giáo chứ không phải là Tổ sáng lập dòng
Thiền mới như Nhân Tôn. Tất nhiên việc thần thoại hoá
tiên thiên Nhân Tôn là việc về sau chứ không phải việc
thiếu thời. Trong thiếu thời, Sử chỉ ghi hai sự kiện là
lấy vợ và học tập. Sử ghi vua Thánh Tôn “chọn người
nho học trong nước, người nào có đức hạnh sung vào hầu
đông cung”. Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ
Cố đều là thầy học của Nhân Tôn. Bản thân Thánh Tông
soạn Di hậu Lục để dạy con. Lục ghi sau khi lấy vợ Nhân
Tôn vẫn muốn đi tu nên nửa đêm ông trốn đi Yên Tử mà
không thành công. Sự kiện trốn đi lên Yên Tử để tu hành
thì Sử chỉ ghi cho Trần Thái Tôn. Phải chăng Lục lại mượn
sự kiện đó gán cho Nhân Tôn ? cũng như đã mượn giấc mơ
đầu thai của Thánh Tôn gán cho Nhân Tôn, đó là hiện tượng
xây dựng nhân vật điển hình trong huyền thoại nhân gian ?
Theo Lục thì trong thời niên thiếu này Nhân Tôn đã ý
thức về việc tu hành, như vậy là được giáo dục cả
về Phật giáo, trong Sử chỉ ghi chép việc học nho giáo
của nhà vua tương lai. Thời Trần tam giáo (Nho, Phật, Lão)
đều được truyền bá trong giới trí thức, cho nên chắc
chắn đến tuổi 20 Nhân Tôn đã có hiểu biết về cả tam
giáo. Nhưng cũng phải thấy mục tiêu đào tạo bồi dưỡng
Nhân Tôn trong thời niên thiếu là Nho giáo (cái gọi là Nho
giáo thời Trần là như thế nào là một vấn đề khác) như
tư liệu đã dẫn trên đây. Trong thời kỳ này chất vua đang
hình thành. Giai
đoạn 2 : (năm 1278 –1290) là giai đoạn mà nhà vua áp dụng
tư tưởng đã tiếp thu được vào công việc vương triều
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua cha. Chế độ hai
vua là một đặc điểm của nhà Trần mà chưa từng thấy
trên nước nào khác trên thế giới cổ đại. Thái thượng
không phải chỉ là một cố vấn mà hoạt động như một
nhà vua trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự.v.v…thậm
chí phế truất cả nhà vua. Vì
vậy trong thời kỳ hai vua thái thượng hoàng vẫn tiếp
tục làm vua, vua đang ở ngôi mang ít nhiều tính chất vua
– thực tập. Cho nên phải tìm hiểu Nhân Tôn giai đoạn này
trong bối cảnh như thế, không thể đơn giản xem tất cả
công tích hay khuyết điểm thời Nhân Tôn đều là của cá
nhân Nhân Tôn cả. Trong thời kỳ này hai vai lãnh đạo
cuộc kháng chiến chống Nguyên. Trong cuộc chiến tranh này
Nhân Tôn đã bộc lộ ý chí bảo vệ độc lập dân tộc
một cách cương quyết bằng nhiều hành động mà câu thơ
đề ở cuối thuyền là một : “Cối Kê cựu sự quân tu ký.
Hoan Aùi do tồn thập vạn binh”. (Cối Kê việc cũ ngươi nên
nhớ. Hoan Aùi vẫn còn mười vạn quân) mà về sau vẫn
chiến thắng được quân Ngô. Không đọc các kinh Xuân Thu,
Việt tuyệt thư… thì không thể hiểu điển tích này. Nhân
Tôn đã không phụ công giảng dạy của Nguyễn Sĩ Cố, chuyên
gia ngũ kinh đương thời. Nhưng câu thơ lại còn biểu hiện
một lòng tin sâu sắc vào sức mạnh dân tộc, hoàn toàn
lạc quan, tuyệt không có bóng dáng “nằm gai nếm mật” và
mỹ nhân kế Tây Thi (tuy Nhân Tôn cũng dùng mỹ nhân kế)
của Câu Tiễn. Trong chiến tranh, Nhân Tôn bôn ba khắp nơi cũng
không nề hà hiểm nguy gian khổ đến mức có mức một
chiếc thuyền con lánh giặt lúc suốt ngày nhịn đói. Ngay
sau khi vừa chiến thắng, Nhân Tôn xuống chiếu định hộ
khẩu, đem quân đi đánh Ai Lao. Cả hai lần đó triều thần
đều can là không nên, phải để cho dân nghỉ ngơi. Nhân Tông
đều giải thích cho họ biết là làm như thế là nhằm
khiến cho quân Nguyên không dòm thấy dân ta tiêu hao hay cho là
quân và ngựa ta chết bại, thế không thể phấm khởi được,
sẽ có sự khinh nhờn đối với ta. Thủ đoạn dùng ở đây
là che giấu thực lực đánh lừa quân thù. Chỉ
huy và trực tiếp tham gia chiến trận đẫm máu, dùng thủ
đoạn chiến tranh tâm lý đối với quân thù, Nhân Tôn đã
hành động hoàn toàn như một bậc vương giả không một chút
bận tâm về giới sát, giới Lục căn mà Khoá Hư Lục đề
cao. Nhân Tôn được Ngô Sĩ Liên khen là người “cố hết
lòng dân”, nghĩa là đoàn kết được toàn dân chống Nguyên.
Cơ sở tư tưởng này là gì ? Có người cho Phật giáo là năng
lực tín ngưỡng làm ra sức mạnh Đại Việt, Phật giáo đã
đem lại tinh thần đoàn kết. Nhân Tôn đã thể hiện sự
toàn kết toàn dân bằng cuộc hội nghị Diên Hồng. Đó là
một hành động chính trị quan trọng mà các triều vua trước
trong những bối cảnh tương tự đều chưa từng tiến hành,
nay duy chỉ trong thời Nhân Tôn mới tiến hành. Cho nên đó
là một hành động chung của hai vua chứ không riêng gì
của Thánh Tôn (tức thượng hoàng). Chính vì vậy Ngô Sĩ Liên
mới khen NhânTôn cố kết lòng dân, còn chỉ khen Thánh Tôn
“Tôn người hiền trọng kẻ sĩ” mà thôi. Ngay bản thân
thể chế thái thượng hoàng cũng là một biểu hiện của
thể chế bô lão công việc trong xã thôn do người sắp lên
lão (59 tuổi) thay nhau điều hành dưới quyền lãnh đạo
của hội đồng bô lão. Thái thượng hoàng là một loại lão
dù tuổi tác chưa cao, nhà vua giống như ông trưởng điều
hành công việc trong một thời gian ngắn đến mức chỉ có
một năm. Trần Nhân Tôn thấm nhuần tinh thần này đến
mức vận dụng cả vào trong tổ chức tăng già, “nhường
ngôi Tổ” cho Pháp Loa khiến Pháp Loa chủ trì sơn môn còn
ông trở thành Thái thượng Tổ. Cho nên hội nghị Diên
Hồng do một quốc lão (thái thượng hoàng) chủ trì, biểu
hiện tư tưởng đoàn kết xã thôn truyền thống dân tộc
không liên quan gì với tư tưởng Phật giáo cũng như Nho giáo.
Chính vì không hiểu điều đó nên nhà nho Ngô Sĩ Liên căn
cứ vào thể chế phong kiến phương Bắc mà phê phán “hai
vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn, há không có kế sách gì
chống giặc phải đợi ban yến hỏi kế ở các phụ lão ư”.
Cũng theo truyền thống dân tộc mà sau ngày chiến thắng Nhân
Tôn đã bình công toàn dân chứ không phải riêng các tướng
sĩ. Các vua Trần đều có biện pháp nhằm bảo vệ đoàn
kết khối hoàng tộc, Nhân Tôn cũng thể hiện chính sách này
trong thái độ đối với Trần Hưng Đạo cướp ngôi mới rõ
rệt, nhưng nhà vua cũng giao binh quyền và luôn luôn hỏi
kế sách chống giặc. Chính thái độ đoàn kết tin dùng đó
đã khiến cho Trần Hưng Đạo vứt bỏ mảnh sắt bịt đầu
và trừng phạt Quốc Tảng vì đã tỏ ý đồng tình với
việc cướp ngôi. Còn đối với Khánh Dư thì Nhân Tôn
biết là người tham bỉ nhưng vì có tài làm tướng cho nên
vẫn dùng. Khi Khánh Dư thông dâm với chúa Thiên Thuy, vua vì
sợ phật lòng Trần Quốc Tuấn nên hạ lệnh đánh chết đồng
thời lại ngầm dặn không được đánh chết, để sau này
thu dụng lại trên bến Bình Than. Khánh Dư là mẫu con người
nặng thanh sắc tài lợi, nhưng dù sau vẫn là người yêu nước.
Còn bọn công hầu lén lút đầu hàng quân giặc kia thật đáng
tội chết mà hai vua vẫn thủ tiêu bằng chứng, không xem,
không truy cứu. Đó không phải là lòng độ lượng. Đó là
một thủ đoạn dùng người của vua chúa. Nhân Tôn đã
từng khuyên Tông Giáo không nên bất hoà với Củng Viên,
gợi ý rằng : “Ngươi làm lưu thủ Thiên Trường, tôn đất
quý vàng tặng biến đi lại với nhau có hại gì đâu ?
Thật là hiếm có vua khuyên quan hối lộ lẫn nhau! Cho nên
mục đích chính sách đoàn kết của Nhân Tôn cũng như các
vua Trần khác chỉ vì lợi ích bảo vệ ngai vàng, có khi
lợi ích này phù hợp với lợi ích dân tộc. Trong khi thi hành
chính sách đó nhà vua không hề xuất phát từ giáo lý mọi
người có Bụt trong mình. Va 2như thế Nhân Tôn vô tình hay
hữu ý đã khuyến khích lòng tham trái với đều ông viết
: “Tham ái nguồn dừng…”, “Dừng hết tham sân mới làu
lòng màu viên giác”. Đó là những đều Nhân Tôn viết
trong bài phú Cư trần lạc đạo. Bài phú này mở đầu
bằng câu : “Mình ngồi thành thị, dùng nét sơn lâm”, đã
xác nhận Nhân Tôn viết khi đang làm vua ở kinh đô. Bài
phú Cư trần lạc đạo chứa đấy điển tích Phật giáo
Trung Quốc, nhiều đến nỗi ngày nay những nhà nghiên cứu
lão thành khá am hiểu điển tích Trung Quốc cũng không thể
nào minh giải được hết. Cả Sử cũng như Lục đều ghi
khi làm vua, Nhân Tôn nghiên cứu kinh Phật, duy chỉ Lục thì
ghi rõ Nhân Tôn học đạo Phật với Tuệ Trung thượng sĩ còn
sử không đề cập đến Tuệ Trung thượng sĩ. Tam tổ
thực Lục cho rằng Nhân Tôn sau khi chốn vào Yên Tử thất
bại, trở về lên ngôi vua, nằm mơ trong chùa Tư Phúc thấy
tượng Phật vàng, từ đó ăn chay thường xuyên khiến cho
mặt mày gầy héo, tức là cho rằng trong khi làm vua thì Nhân
Tôn đã tu tại gia. Sử không ghi về việc Nhân Tôn tu hành
tại gia nhưng cũng phủ định đều đó với câu “vui lòng
ở kinh Phật”. Lục không ghi về hoạt động chính trị
của Nhân Tôn, trong khi thực tế đó là thời kỳ hoạt động
chính trị sôi động nhất của nhà vua. Chỉ có từ 1278 –
1282 là 4 năm tương đối yên tĩnh, nhà vua ở tại Thăng
Long. Và đó là thời gian “mình ngồi thành thị, dựng
nết sơn lâm” nên cư trần mà vẫn lạc đạo. Như
vậy trong giai đoạn hai này con người Nhân Tôn bộc lộ rõ
ràng nhất, đầy đủ nhất. Nhân Tôn đã chín muồi với
tuổi 30. Chất vua là tính trội của Nhân Tôn trong giai đoạn
này, tính Bụt đang hình thành, còn là tính lặn, tuy hiểu
biết giáo lý đã sâu sắc. Điều đặc biệt đáng lưu ý là
trong hành động Nhân Tôn không chịu ảnh hưởng giáo lý nhà
Phật tí nào. Phật giáo chỉ thuần tuý có ý nghĩa giải
thoát cá nhân, không chỉ đạo hành động xử thế của nhà
vua. Nhân Tôn đã tư duy và hành động theo truyền thống dân
tộc, truyền thống gia tộc và theo kinh sử Nho gia, tuyệt
nhiên không muốn chút Thiền, Thiền học lúc này chỉ gói
gọn trong phạm vi thuần tuý cá nhân không chi phối con người
Vua. Đời và Đạo chưa hoà lẫn vào nhau. Giai
đoạn 3 : (năm 1290 – tháng 3 năm 1293), là giai đoạn nhà
vua Nhân Tôn hoàn toàn độc lập không chịu sự chi phối
của thái thượng hoàng nữa. Trong thời kỳ ngắn ngủi
khoảng trên 20 tháng này không có sự kiện gì lớn. Trong nước
đói to, vua chẩn tế, sau xuống chiếu rằng những người
mua lương dân làm nô tì trong năm đói thì nay được chuộc
lại, nhưng ruộng đất và nhà ở thì không theo luật ấy.
Trong giai đoạn sau này, khi Nhân Tôn đã xuất gia ta sẽ
thấy việc chuẩn cấp trong lúc đói mang ít nhiều ý nghĩa
Phật giáo. Còn ở đây Nhân Tôn vẫn chấp nhận sự tham
lam tài sản, việc giải phóng nô tì không
vì mục đích nhân đạo mà thuần tuý vì quyền lợi vương
triều. Cũng cùng một thái độ như vậy Nhân Tôn phạt trượng
Phí Mạnh vì tội tham ô nhưng không cách chức mà vẫn để
trị dân như cũ. Vua vẫn tiếp tục dùng ân huệ công danh ràng
buộc những người phục vụ cho mình, như thăng quan cho
Trần Thì Kiến, vỗ về các gia đồng hậu cận vương hầu,
mặc dù vua đã viết : “Công danh màng đắm, ấy toàn là
những đứa ngây thơ…”. Bản chất Nhân Tôn không thay đổi
so với giai đoạn trước chứng tỏ Nhân Tôn đã chín muồi
từ thời đó và trong thời kì trước, thái thượng hoàng cũng
không kìm hãm ông. Tuy nhiên không phải giữa hai vua cái gì
cũng nhất trí và tốt đẹp. Ít ra Sử cũng ghi lại trường
hợp đáng lưu ý. Trường hợp thứ nhất là việc Nhân Tôn
muốn đề bạt Đặng Long làm Hàn Lâm học sĩ, nhưng thượng
hoàng không cho, về sau long bất mãn hàng giặc. Trường
hợp thứ hai là Nhân Tôn chỉ phong Đỗ Hành làm nội hầu
chứ không phong cho tước cao hơn vì khi bắt được Ô Mã
Nhi không dâng lên vua mà dâng lên thái thượng hoàng. Bản
thân Nhân Tôn cũng chưa thoát khỏi chữ danh. Giai
đoạn 4 : (năm 1921 – tháng 8 năm 1299) là thời gian Nhân Tôn
làm thái thượng hoàng dưới triều Anh Tôn. Tháng 8 năm 1294
Nhân Tôn cầm quân đi đánh Ai Lao. Sau đó Sử ghi : “Mùa
hạ tháng 6, Thượng hoàng về kinh sư. Đã xuất gia ở hành
cung Vũ Lâm, lại trở về. Như vậy trước khi vào Yên Tử,
Nhân Tôn đã từng xuất gia Vũ Lâm (thuộc địa phận tỉnh
Nam Định ngày nay). Vì sao Nhân Tôn đã xuất gia ra Vũ Lâm
lại trở về kinh sư. Và vì sao sau này không trở lại Vũ Lâm
mà lại vào Yên Tử. Sử hay Lục đều không minh giải
trực tiếp. Lục cơ bản không biết đến việc Nhân Tôn
xuất gia ra Vũ Lâm. Chỉ có thể suy đoán tư tưởng và hành
động này của NhânTôn qua những sự kiện. Điểm lại các
sự kiện ngoại giao ta thấy từ sau ngày nước ta thắng quân
Nguyên năm 1288 triều đình phương Bắc vẫn không ngừng dòm
ngó nước ta. -
Tháng 7 năm 1291, Nguyên
sai Lễ Bộ thượng thư sang sứ đòi vua Trần vào chầu (!).
Vua Trần cáo tang không đi. -
Cuối năm 1293 khi Nhân
Tôn vừa mới nhường ngôi thì nhà Nguyên sai Binh Bộ thượng
thư sang đòi vua vào chầu. Lần trước sai Lễ Bộ thượng
thư sang là để dùng “lễ” răn đe, lần này sách lược
ngoại giao “tiên lễ hậu binh” của “Thên tử”. Quả
nhiên Đào Tử Kỳ sang sứ từ chối vào chầu thì thấy nhà
Nguyên đã lập An Nam hành sách đợi tiến đánh. Chẳng may
tháng giêng năm sau Nguyên Thế Tổ chết, họ phải bãi binh
vì Thánh Tôn mới lên ngôi lo củng cố địa vị trong nước.
Thế mà tháng 2 năm 1295 nhà Nguyên lại sai sứ sang nữa. Có
thể năm 1294 với cái chết của Nguyên Thế Tổ, Nhân Tôn
cho là nhà Nguyên gặp nhiều khó khăn nội bộ chưa có thể
dòm ngó nước ta được nên an tâm xuất gia. Nhưng tình hình
không cho phép, sứ đoàn 1295 chứng tỏ quân Nguyên vẫn nhòm
ngó nước ta. Tuy Anh Tôn đã cử sứ sang xin kinh Phật có
lẽ là để tỏ lòng yêu chuộng hoà bình sẵn sàng đặc
quan hệ văn hoá thay cho chiến tranh. Phật giáo đã được
đưa vào phục vụ ngoại giao. Nhưng nguy cơ chiến tranh không
phải vì vậy mà tắt, hơn nữa Anh Tôn còn say rượu khiến
Nhân Tôn đòi cách chức) cho nên Nhân Tôn phải trở lại
triều. Và 4 năm sau tình hình yên ổn, nhà Nguyên trên con
đường suy vong về tay nhà Minh không đủ sức phát động
chiến tranh xâm lược nước ta, Nhân Tôn lại xuất gia kết
thúc giai đoạn chính thức làm thái thượng hoàng. Trong
giai đoạn này, Nhân Tôn – Thái thượng hoàng vẫn là một
Vua như trong giai đoạn trước. Tính Bụt có lúc đã nổi lên
toan chiếm địa vị chủ đạo trong tư tưởng và hành động,
nhưng cuối cùng lại trở lại vị trí lặn để 4 năm sau
khi Anh Tôn lên ngôi một năm là một trường hợp đặc
biệt. Thông thường thời gian các vua Trần làm thái thượng
hoàng dài hơn thời gian làm vua rất nhiều. Như vậy chỉ có
thể giải thích trường hợp Nhân Tôn bằng lý do hoặc là
tính Bụt quá đậm hoặc là Nhân Tôn làm thái thượng hoàng
dưới dạng đặc thù – thái thượng hoàng – Bụt. Tình hình
sau này chứng tỏ khả năng sau đúng hơn khả năng trước. Giai
đoạn 5 : (năm 1299 đến tháng 3 năm 1301): Trong thời kỳ mà
Sử gọi là 8 năm xuất gia đó, thực tế Nhân Tôn tương đối
toàn tâm toàn ý tu hành chỉ có từ tháng 3 năm 1299 đến tháng
3 năm 1301 khoảng trên dưới 20 tháng. Nhân Tôn vào yên Tử
xây dựng chi đề, tịnh xá, tu khổ hạnh. Sử ghi ghi giai đoạn
này rất đơn giản tựa hồ như từ đây không có Nhân Tôn
nữa, và theo Lục thì từ đây chỉ còn có Hương Vân đại
đầu đà mà thôi. Chính trong thời này Nhân Tôn làm bài Đắc
thứ lâm tuyền thành đạo ca. Bài Cư trần lạc đạo mang
đậm dấu ấn người tu tại gia giữa đô thành tục luỵ,
chứng minh tu hành cốt ở Tâm chứ không phải ở hoàn
cảnh, biện pháp, phương tiện hay giáo lý, lo “ngồi am
Sạn non Đông”, cũng chẳng kinh Thiền Nam hay Bắc, Đại
Thừa hay Tiểu Thừa, cũng không bắt buộc nơi gương Vương
lão chém mèo hay thầy Hồ xua chó.v.v…tất cả những điều
đó “tuy khác nhiều đàng”nhưng “chẳng khác mộ gang”,
bởi vì “Bụt ở cùng nhà, chẳng phải tìm xa, nhân khu
Bổn nên ta tìm Bụt, đền cốc hay chính Bụt là Ta”. Nhân
Tôn nghiên cứu nhiều giáo lý các tông phái, nhiều sự tích
và phương pháp tu hành của các cao tăng đã rút ra một
kết luận cho mình là : cư trần mà vẫn có thể lạc đạo,
tức Đạo và Đời không phủ định nhau tuyệt đối. Pháp
Vân thiền sư trước đó cũng từng nói với Thái Tôn là
Phật không có trong núi, Nhân Tôn cũng cùng một dòng suy nghĩ
đó. Nhưng rồi cuối cùng vì sao Nhân Tôn vẫn vào núi ? Bài
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cho ta hiểu tư tưởng Nhân
Tôn lú này, Cốt lõi bài ca ở trong mấy câu : “Kiếm
chốn dưỡng thân, vắng vẻ ngàn kia, thân lòng hỷ xả,
thanh nhàn vô sự, quét tước đài hoa, thờ phụng Bụt
trời”. Rõ ràng Nhân Tôn đi ở ẩn hơn là đi tu. Nếu
chỉ nhìn đời độc một giai đoạn này ta có thể cho
rằng Nhân Tôn hoàn toàn Bụt, không vướng chút Vua nào
trong tư tưởng cũng như trong hành động. Nhưng nếu nhìn
chung toàn bộ cuộc đời Nhân Tôn – nhất là giai đoạn
tiếp sau đây – thì ta có thể đặc nhiều nghi vấn về
chất Bụt trong ông ta lúc này. Không phải chỉ đến ngày
nay chúng ta mới nêu ra nghi vấn đó, ngay từ thế kỷ 18 Ngô
Thì Nhậm đã viết : “Người ta thấy Điếu Ngự đệ
nhất Tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là người xuất gia,
ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là
công, trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước
láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy không
tiện nói ra, sợ người ta dao động cho nên nhắm được
ngọn núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên
Quảng, phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng lên ngôi chùa
thời thượng lại chơi để xem động tĩnh, cốt để chừa
cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vi vô lượng
Đạ Thế Chí Bồ Tát”. Như trên đã lưu ý, vốn Nhân Tôn
đã xuất gia ở Vũ Lâm, vì sự kiện sứ Nguyên mà trở
lại kinh sư, sau không trở lại Vũ Lâm mà ra Yên Tử, có
thể ngoài lý do tìm kiếm một linh sơn như Huyền Quang đã
nói, còn có cả dụng ý chính trị như Thì Nhậm nêu ra
nữa. Đương
thời, khu vực Yên Tử nằm trên yếu lộ giao thông thuỷ
bộ với phương Bắc, người đi lại dập dìu, quả có
thể ở đây mà xem “động tĩnh” được. Chứ không
phải Nhân Tôn học tập và phát hiện ra chân lý Trúc Lâm
trong vườn Trúc Yên Tử, sở đắc đó ông đạt được
ngay khi còn làm vua ở kinh sư. Bài Cư trần lạc đạo giàu
chất liệu giáo lý Phật giáo hơn bài Đắc thú lâm tuyền
thành đạo ca nhiều lần. Về mặt tôn giáo, thời kỳ Nhân
Tôn ở Yên Tử chỉ có một mục đích duy nhất là hình hành
thông phái : cởi bỏ long bào khoát áo cà sa xuất hiện
với tư cách Phật giáng trần; thuyết pháp truyền bá giáo
lý mới, thu nhận tín đồ, xây dựng tịnh xá, chi đề hình
thành sơn môn tức Tăng, nghĩa là hình thành Tam Bảo (Phật
Pháp Tăng) của Trúc Lâm. Trong thời kỳ này không phải Nhân
Tôn đã “giấy sồi vo vá”, “bữa đói bữa no” như ông
viết. Đó chỉ là hình tượng văn học mà ông dùng cả
ngay trong bài phú Cư trần lạc đạo lúc ông đang làm vua.
Huyền Quang đã nhắc đến làng Nương, làng mụ là là nơi
cư trú thành làng của những người theo hầu ông vua đi tu.
Thiền tông bản hạnh bênh vực Tổ bằng cách cho là những
người này mộ đạo ở lại đây tu hành. Nhưng chính Tam
Tổ thực lục cho chúng ta biết mãi đến sau 4 năm 1308, Nhân
Tôn mới đuổi hết những người hầu hạ chỉ còn giữ
lại 10 thị giả. Cho nên trong thời kỳ này Nhân Tôn là
một ông vua đi tu chứ không trực tiếp cai trị. Thời kỳ
này tư tưởng và hành động của Nhân Tôn lấy tính Bụt làm
tính trội, tính Vua Vua lắng xuống tuy không triệt tiêu hoàn
toàn, cho nên giai đoạn này Nhân Tôn là một Bụt – vua. Giai
đoạn 6 : (năm 1301 – khoảng tháng 10 năm 1303). Đó là
thời kỳ Nhân Tôn xuống núi. Theo Lục thì đó là thời
kỳ đi thuyết pháp khắp nơi trong nước, phá các dâm từ,
truyền bá các giáo lý Trúc Lâm. Đúng là có sự thật như
vậy. Nhân Tôn đã mô phỏng lại hành động ngộ đạo –
thuyết pháp của Thích Ca Mầu Ni. Nhưng phải trong thời gian
này hoạt động của Nhân Tôn chỉ có mục đích Đạo, trái
lại ta còn thấy có mục đích Đời, hay nói cho đúng hơn là
Đạo – Đời kết hợp. Sử ghi : “Tháng 3 (năm 1301) thượng
hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Sử ghi
Nhân Tôn đi chơi không hoạt động tôn giáo mà cũng không
hoạt động chính trị gì cả. Lục ghi Nhân Tôn trở về chùa
Phổ Minh (tức trở lại cung Thiên Trường, nơi cư trú của
thái thượng hoàng) mời các danh tăng đến lập hội giảng
kinh trong vài năm, rồi đi dạo khắp thôn quê, đến trại
Bố Chính dựng am tri Kiến. Đến năm 1304 Nhân Tôn đi khắp
làng mạc, xoá bỏ các dâm từ, dạy dân làm mười đều
thiện, Anh Tôn mời Nhân Tôn vào cùng giảng đạo cho vua và
bá quan…Sau này Thiền Tông bản hạnh lại tô điểm thêm
nhiều chi tiết như Nhân Tôn “hành hoá” (xin cơm), thế đầu
(cạo trọc) không ai biết là vua. Đó là sự bịa đặt
của đời sau nhằm Phật hoá hoàn toàn nhà vua. Việc Nhân Tôn
đi thuyết pháp khắp nước nhằm thống nhất ý thức hệ
toàn dân dưới một hệ thống tín ngưỡng là điều có
thực. Điều đáng lưu ý là Lục ghi Nhân Tôn chỉ đến
Bố Chính, còn sử ghi Nhân Tôn đến Chiếm Thành. Sử đúng,
vì sau này Nhân Tôn còn tiếp tục giải quyết sự kiện
Huyền Trân. Không phải đột nhiên mà có sự kiện này. Sử
ghi : -
Tháng 2 năm 1301 Chiên
Thành sang cống. -
Tháng 3 năm đó Nhân
Tôn sang Chiêm Thành. -
Tháng 11 năm đó Nhân
Tôn từ Chiêm Thành về. -
Khoảng năm 1304, Doàn
Nhữ Hài đi sứ Chiếm Thành, trước khi đi có bái yết thượng
hoàng ở chú Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Thượng hoàng nói
chuyện với Nhữ Hài hơn một giờ. -
Tháng 2 năm 1305, Chiêm
Thành sai người sang cầu hôn. Các quan triều đều cho là không
nên, duy có Đạo Tái và Trần Khắc Chung tán thành nên mới
quyết. Tựa
hồ như sự kiện này không liên quan gì đến Nhân Tôn. Đoàn
Nhữ Hài và cả Anh Tôn. Sử miêu tả Đạo Tái và Khắc
Chung như là hai nhân vật chính của sự kiện Huyền Trân.
Nhưng đột nhiên sử lại ghi : -
Mùa hạ tháng sáu năm
1306 gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân vì “trước đây
thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành đã
chót hứa gả con gái cho”. Trong triều và trong nước
nhiều người làm thơ nôm chê cười là “Cống Hồ”. Và
Ngô Sĩ Liên bực dọc phê phán : “Nhân Tôn đem con gái gả
cho vua nước Chiêm Thành là nghĩa gì ? Nói rằng Nhân Tôn
khi đi chơi mà trót hứa gả, sợ thất tín, thì sao làm
việc đổi mệnh có được không ? Vua giữ ngôi trời mà thượng
hoàng đã xuất gia rồi, việc đổi mệnh thì có khó gì…” Như
vậy sự việc đã quá rõ ràng. Nhân Tôn là người đạo
diễn vụ hôn nhân chính trị này, Nhữ Hài là người thực
thi, Đạo Tái và Khắc Chung là người ủng hộ. Còn Anh Tôn
đã Nhữ Hài đi Chiêm Thành nhưng lại sai đến yết Kiến
Nhân Tôn, và Nhân Tôn khen Anh Tôn chọn đúng người tài cáng
đáng công việc này, như vậy Anh Tôn không phải là người
đứng ngoài cuộc. Có chăng cách làm việc này chứng tỏ
từ năm 1301 về sau Nhân Tôn vẫn là thái thượng hoàng,
chứ không phải là con người đã “đắc ý công lòng, cười
miệng ha hả, công doanh chẳng chuộng, phú quí chẳng màng,
Tần Hán xưa kia, xem đà nhạn hạ…trần duyên rũ hết,
thị phi chẳng hề,…học đòi chư Phật, cho được viên thành”.
Và Ngô Sĩ Liên đã ngây thơ cho rằng Anh Tôn có thể đổi
mệnh được và cũng ngây thơ tin rằng Nhân Tôn đã xuất
gia thoái tục, không những không muốn quan tâm việc trần
thế mà còn không có quyền tham gia việc triều chính. Sự
kiện Huyền Trân càng về sau càng chứng tỏ vai trò thái thượng
hoàng của Nhân Tôn trong giai đoạn này. -
Tháng giêng năm 1306
đổi 2 châu Ô Lý, lễ vật dẫn cưới của Chế Mân thành
châu Thuận và châu Hoá. Lại chính Đoàn Nhữ Hài đến đó
vỗ yên nhân dân. -
Tháng 5 năm 1306 Chế
Mân chết, tháng 10 năm đó Trần Khắc Chung đi đoán Huyền
Chân công chúa. -
Tháng 8 năm 1308 “công
chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về. Thượng hoàng sai trại
chủ Hoá Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm về nước). -
Sự kiện Huyền Trân
kết thúc và chỉ 3 tháng sau Nhân Tôn vĩnh viễn từ giã
trần ai. -
Sự kiện Huyền Trân
chứng tỏ Nhân Tôn “tái xuất chính” sau gần 2 năm ở núi.
Trong khi giải quyết sự kiện này Nhân Tôn dùng biện pháp
cổ truyền, tức dùng quan hệ hôn nhân như một thủ đoạn
chính trị. Bản thân sự kiện cũng như tư tưởng chỉ đạo
không quan hệ gì đến Phật giáo. Đây là một hành động
Vua do một tư tưởng chính trị chỉ đạo. Sự kiện này
bộc lộ rõ ràng bản chất Vua của con người đã “ngộ
đạo” thốt ra những lời lẽ siêu thoát từ trên núi Yên
Tử. Nhưng phải chăng trong thời kỳ này Nhân Tôn chỉ hành
động Vua không có hành động Bụt. -
Sử ghi : “Mùa xuân
tháng giêng (1303), ngày 15, thượng hoàng ở phủ Thiên Trường,
mở hội Vô Lượng ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc
tiền lụa để chẩn cấp cho người nghèo trong nước và
giảng kinh giới khí”. Tam Tổ thực lục cũng ghi sự kiện
này nhưng không nói đến chẩn cấp. Cho nên đọc Lục ta có
cảm tưởng hội Vô Lượng chỉ là một hoạt động thuần
tôn giáo. Trái lại sử cho ta thấy hai mặt của sự kiện :
chẩn cấp của Vua và thuyết pháp răn đời của Bụt. Vì
sao có sự kiện này ? Sử ghi rõ năm 1301 đói to, năm 1302 có
cuộc nổi loạn của Biếm, đạo sĩ phương Bắc tên là
Hứa Tôn Đạo theo thuyền buôn đến phường Yên Hoa (tại
kinh đô NDH) bày trò phù thuỷ và đàn chay. Rõ ràng tình hình
trong nước lúc bấy giờ đói và loạn, loạn cả về chính
trị (nổi dậy), loạn cả về tư tưởng (tà đạo). Đó là
nguyên Nhân khiến cho Nhân Tôn mở hội Vô Lượng. Mục đích
chủ yếu là dùng tiền bạc xoa dịu mối loạn chính trị,
giảng kinh Phật răn đe để trấn áp mối loạn về tư tưởng.
Sự kiện hội Vô Lượng là hiện tượng dùng tôn giáo
phục vụ chính trị. Ở đây chất Vua và chất Bụt cùng
tồn tại, Bụt phục vụ Vua, trong hợp này Nhân Tôn xuất
hiện như một Vua – Bụt. -
Ngoài sự kiện trên
đây, trong những năm sau của thời kỳ này Nhân Tôn thường
xuyên đi lại tại các chùa Báo Aân ở Siêu Loại, chùa Sùng
Nghiêm ở Chí Linh, chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang. Nhânn Tôn
quanh quẩn ở khu vực cuối đoạn đường ven biển theo chân
núi đi từ phía biên giới Việt – Trung đến đây để vượt
qua sông tiến vào đồng bằng thông lên kinh đô – con đường
xâm lược cổ truyền của phong kiến phương Bắc. Có thể
suy luận là Nhân Tôn khống chế đầu mối yếu lộ này chăng
? Nhưng dù sao trong khi thuyết pháp ở các chùa, Nhân Tôn đã
đề cập đến những vấn đề thuần Tôn giáo như Phật,
Pháp, Tăng, Sắc, Không… -
Năm 1307 Nhân Tôn
truyền y bát cho Pháp Loa, và như thế là Nhân Tôn biến thành
thái thượng – Tổ. Nhân Tôn đã đưa chế độ thái thượng
hoàng vào Tăng hội. Đó là yếu tố Vua thâm nhập vào thế
giới Bụt một cách cụ thể nhất, nhưng không phải là trường
hợp duy nhất. Việc Nhân Tôn đi thuyết pháp tuyên truyền
Phật giáo đồng thời xoá bỏ các dâm từ – tức xoá bỏ
các dị giáo bằng bạo lực, đó cũng là một hoạt động
Vua không theo truyền thống Phật giáo. -
Tóm lại, trong thời
kỳ này yếu tố Vua đang lặn trong giai đoạn tu ở Yên Tử
thì nay tăng vụt lên thành yếu tố trội. Chúng ta gặp
một Vua – Bụt, yếu tố phục vụ cho yếu tố Vua. Đó là
điểm khác cơ bản trong tư tưởng và hành động của Nhân
Tôn so với tất cả các giai đoạn. Giai
đoạn 7 : (khoảng tháng 10, 11 năm 1308). Đây là những ngày
cuối cùng của Nhân Tôn. Sau sự kiện Huyền Trân hoàn toàn
kết thúc vào tháng 8 năm 1308 thì Sử ghi tháng 11 năm đó
“thượng hoàng băng ở am Ngoạ Vân” và nhắc nhở đến
việc Nhân Tôn về công chúa Thiên Thuy. Lục cơ bản cũng
ghi như thế, nhưng ghi thêm những hoạt động tôn giáo như
hạ ở chùa Vĩnh Nghiêm, đuổi hết tịnh nhân và tam bảo nô
chỉ giữ lại 10 thị giả rồi vào các mái đá ngồi
thiền, hay giảng Truyền đăng Lục cho Pháp Loa. Khi đi thăm
Thiên Thuy thì không về đến Yên Tử mà tịnh ở am Ngoạ Vân
thuộc Yên Sinh. Những
lời thuyết pháp và lời cuối cùng nói với Bảo Sái của
Nhân Tôn là tư liệu quí giá để hiểu quan niệm của Nhân
Tôn về những vấn đề cơ bản của Thiền Tông. Dù sao đi
nữa trong thời gian ngắn ngủi này Nhân Tôn đã xuất hiện
với tư cách Bụt chứ không với tư cách Vua, gần hoàn toàn
là Bụt, Bụt đứng trước ngưỡng cửa Niết Bàn. Thái độ
đối với cái chết của Nhân Tôn bộc lộ rất rõ ràng, ông
điềm nhiên đón lấy giây phút cuối cùng của mình không
chút xúc động cũng không chút ảo tưởng về thế giới bên
gia: Nhất
thiết Pháp bất sinh Nhất
thiết Pháp bất diệt Được
năng như thử giải Chư
Phạt thường hiện tiền Hà
khứ lai chi hữu. Nghĩa
là pháp không sinh nghĩa là cũng không có diệt, nếu hiểu
được như thế thì lúc nào cũng thấy Phật, làm gì có
việc đi và về. Không có việc Đi (từ bản thể tách ra,
tức là sinh), Về (trở lại bản thể, tức chết) gì cả.
Trước khi sinh ra là Phật, khi đang sống là Phật, sau khi
chết cũng là Phật. Làm gì có sinh tử. Đã vậy thì làm gì
có luyến tiếc trần ai, làm gì có cầu mong Niết Bàn. Thái
độ này giống như Tuệ Trung thượng sĩ. Đó là cốt lõi
Trúc Lâm. Tóm
lại, sau khi khảo sát toàn bộ cuộc đời Nhân Tôn một cách
chi tiết và cụ thể đến mức tư liệu cho phép, chúng ta
thấy Nhân Tôn thực chất là một Vua – Bụt, chỉ từ
những khoảng thời gian rất ngắn tính Bụt nổi cao hơn tính
Vua, chứ không bao giờ là Bụt – Vua cả. Bụt là tu thân,
Vua là vị quốc, cơ bản hai điểm này tách biệt nhau, chứ
không kiêng hệ theo cái logic cổ truyền phong kiến phương
Bắc : tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ. Nhưng
Bụt và Vua không phải hoàn toàn độc lập với nhau. Nhân Tôn
dùng Bụt như một phương tiện để thống nhất ý thực
hệ hoàn toàn nhằm qui về một mối cả vương quyền lẫn
thần quyền, một hình thức Thần – Vua phổ biến ở Đông
Nam Á cổ đại. Một hình thức đặc thù : Vua – Thần
chứ không phải Thần – Vua. Vậy
thì Nhân Tôn trị quốc theo tư tưởng chỉ đạo nào ? Nhân
Tôn tu thân theo quan niệm, phương pháp và mục đích như
thế nào ? Trước
tiên ta thấy Nhân Tôn trị quốc theo truyền thống dân tộc
thể hiện rõ nét ở tinh thần yêu nước bất khuất và
tinh thần đoàn kết xã thôn theo thể chế bố lảo. Nho
học đã thâm nhập trong giới trí thức đương thời, nhưng
chỉ có một bộ phận cực kỳ nhỏ theo giặc. Kinh sách Nho
gia cực lực đề cao vai trò thiên tử mà các vua Trần vẫn
xem trọng nhân dân. Thứ
đến Nhân Tôn trị nước theo truyền thống gia tộc Trần
mang tính chất thực dụng chủ nghĩa khá đậm. Trong khi xử
lý những sự kiện chính trị xã hội, các vua Trần nhằm
thẳng vào mục đích cuối cùng chứ không xuất phát từ
một tiêu chuẩn đạo đức giáo điều nào trong kinh sử mà
họ có học kỹ. Để bảo vệ ngai vàng cho gia tộc, họ không
ngần ngại thi hành chính sách hôn nhân trong nội bộ gia
tộc, bất chấp cái gọi là loạn luân mà Nho gia cực kỳ
khinh bỉ. Cũng không ngần ngại dân công chúa An Tư cho Thoát
Hoan, cũng bất chấp lời chế diễu “cống Hồ” cứ gả
Huyền Trân cho Chế Mân. Việc khuyên Tòng Giáo hối lộ
Củng Viên, việc huỷ các bằng chứng đầu hàng giặc của
một số quân lại, cách xử lý van đề Trần Khánh Dư.v.v…tất
cả đề thấm nhuần tinh thần thực dụng nhằm củng cố
ngai vàng họ Trần. Nhân
Tôn cũng xử sự theo Nho giáo phần nào. Dung bá công danh để
động viên quan lại, dùng ân huệ để mua chuộc lòng người,
vẽ tượng chép tên vào Trung Hưng thực lục những người
có công dẹp giặc, dùng thơ phí điển tích Trung Quốc để
cổ động lòng người. Nhưng ở Nhân Tôn ta chưa thấy thể
hiện triệt để tư tưởng tam cương ngũ thường cũng như
cái tôn ti trật tự theo chế độ tông pháp khắc nghiệt
của Nho giáo nhất là Tống Nho. Nhân
Tôn cũng hiểu biết đạo lão. Trong thơ ca của ông thể
hiện tư tưởng tiêu giao nhàn tản hoà bình vào thiên nhiên,
nhưng tuyệt không dẫn đến hành động chính trị kiểu vô
vi. Nhân Tôn xây dựng lại am Dược, nói đến dân thần, trường
sinh, hoán cốt, tiêu dao, dưỡng sinh. Những đều đó ngày
nay người ta thường xem là đạo lão, nhưng thực ra đó không
phải là nội dung đạo Lão với tư cách là một trường phái
triết học cổ đại Trung Quốc. Mà đó là một mớ hỗn
tạp nhiều dòng tư tưởng của tri thức Trung Quốc chán ngán
sự đời mai danh ẩn tích trong rừng núi với cỏ cây từ
thời Tam Quốc. Nhân Tôn có nói đến trường sinh nhưng
thực ra ông có ý thức mưu cầu trường sinh bởi vì ông đã
nhận thức không có Đến không có Đi. Luồng tư
tưởng Phật giáo trong Nhân Tôn biểu hiện cụ thể ở quan
niệm Phật, về giải thoát. Bụt là gì ? Nhân Tôn đã trả
lời câu hỏi dai dẳng trong Thiền Tông này một cách hoàn
toàn mới : “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa. Nhân
khuy bản nên Ta tìm Bụt, đến cốt hay chính Bụt là Ta” (Cư
trần lạc đạo về 53 – 56). Giải thích
Phật từ Tâm không phải đã nối lên được “nhân khuy
bản nên ta tìm Bụt”. Bởi vì ta đánh mất Ta cho nên Ta
mới tìm Bụt, rõ khéo ngớ ngẫn. Bụt chính là Ta. Một suy
tư làm cho chúng ta chợt liên hệ đến ý kiến về con người
đánh mất mình và sự tha hoá của con người mà Mác đã nói
đến với một ý nghĩa và tầm cỡ khác. Nhân Tôn tin tưởng
Phật tính không phải bằng lý thuyết về Đại Ngã và
Tiểu Ngã, và bằng lòng tin vào bản năng tốt đẹp của
con người. Chỉ cần chống lại cám dỗ của thanh sắc, công
danh, phú quí tất Ta lại tìm được Ta. Không nhất thiết
phải xuất gia, không nhất thiết phải ngồi thiền. Cư
trần lạc đạo thả thuỳ duyên Gia
trung hữu bảo hưu tầm mịch Cơ
tắc xan hề khốn tắc niên Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Cứ
sống giữa trần tục không cần trốn đời cũng vẫn mộ
đạo. Trong bản thân mình đã có Phật (bảo), không cần đi
tìm đâu cả. Cứ sống tự nhiên, đói ăn mệt ngủ. Chỉ
cần Tâm không vọng động trước cám dỗ của cuộc đời
đến mang nghiệp vào thân. Được thế thì cần gì đến
Thiền. Đ1o là con đường tu nhân để giải thoát của Nhân
Tôn. Nhưng chưa bao giờ ta thấy Nhân Tôn đem lý luận này
xử lý công việc quốc gia. Tu nhân, trị quốc là hai đều
khác nhau trong con người Nhân Tôn. Đạo là Đạo, Đời là
Đời. Nói như thế không có nghĩa là hoạt động tôn giáo
của Nhân Tôn không có mục đích. Nhân Tôn đã dùng giáo lý
Trúc Lâm làm phương tiện thống nhất ý thức hệ toàn dân,
hòng tóm thần quyền vào tay các vua Trần. Cho nên trước
sau Nhân Tôn cũng chỉ là một ông Vua dù là một ông Vua –
Bụt (chứ không bao giờ là một Bụt – Vua cả) thì cũng là
Vua không hơn không kém./. GHI
CHÚ :
Trong
bài tôi dùng năm Dương lịch cho tiện theo dõi trong khi ngày
tháng vẫn dùng Aâm lịch. Cũng
để tiện theo dõi tôi dùng suốt bài hai chữ “Nhân Tôn”
mà không thay đổi gọi hay danh hiệu theo các giai đoạn
hoạt động của nhà vua này.
a)
Thái Tôn là vua đầu tiên không có thái thượng hoàng
nhưng thực tế có Trần Thủ độ như thái thượng hoàng. b)
Nghệ Tôn làm thái thượng hoàng cho nhiều vua.
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||