HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ

TRẦN NHÂN TÔN

VUA BỤT

TƯ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG

GS. Nguyễn Duy Hinh

Trần Nhân Tôn là VUA, là BỤT, điều đó đã rõ. Nhưng là VUA – BỤT hay là BỤT – VUA thì nghiên cứu sâu hơn nữa. Đã có một thời gian dài giới Sử học đã biết đến một Trần Nhân Tôn – VUA, còn giới Phật giáo thì chỉ biết một Trần Nhân Tôn – BỤT. Đối chiếu những tư liệu trong Đại Việt Sử ký toàn thư với Tam Tổ thực Lục thì ra cũng thấy ngay hiện tượng Sử thì chú trọng những hoạt động chính trị, còn Lục thì chú trọng những hoạt động tôn giáo, tức là Sử phản ảnh phận Đời, Lục phản ảnh phần Đạo của cùng một con người Trần Nhân Tôn để nghiên cứu tư tưởng và hành động của ông là một điều cần thiết để khôi phục lại con người cụ thể thực tế và toàn diện của Trần Nhân Tôn.

Theo Đại Việt Xử lý toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì cuộc đời Trần Nhân Tôn chia làm 3 giai đoạn, gói ghém 18 chữ thật cô đọng : “Nhân Tôn ở ngôi mười bốn năm. Nhường ngôi năm năm, xuất gia tám năm, thọ năm mươi mốt tuổi”. Trong thực tế thì cuộc đời Trần Nhân Tôn có thể chia làm 7 giai đoạn : làm thái tử, làm vua có thái thượng hoàng, làm vua không có thái thượng hoàng, đi tu khổ hạnh, đi thuyết pháp và những ngày cuối cùng.

Dưới đây lần lượt đi sâu nghiên cứu từng giai đoạn.

Giai đoạn 1 : (năm 1258 – 1278), là thời kỳ niên thiếu học tập để chuẩn bị làm vua. Trong các vua Trần thì duy nhất chỉ Trần Nhân Tôn giới Sử ghi nhận có tướng lạ, da vàng và nốt ruồi bên vai trái.Từ đó đưa ra hai suy đoán : Kim Tiên đồng tử xuống trần và tương lai có thể cáng đáng được việc lớn. Lục thì ghi là Kim Phật (Bụt vàng) và ghi việc mẹ vua Trần Nhân Tôn nằm mơ thấy thần ban thanh kiếm, thọ thai sinh ra Nhân Tôn. Sử ghi sự kiện danh kiếm đầu thai cho Thánh Tôn (cha Nhân Tôn) còn chỉ ghi Nhân Tôn được tin anh của thánh nhân. Tuy ghi chép khác nhau chút ít do lập tá tác giả đó khác nhau, nhưng thực tế đều phản ảnh ngay từ thời Trần đã có huyền thoại từ cội nguồn siêu nhân của Nhân Tôn và Thánh Tôn để minh giải và ca tụng chiến công hiển hách của hai nhà vua này. Riêng đối với Nhân Tôn thì huyền thoại đã phản ảnh cả chất Vua – anh hùng lẫn chất Bụt – cứu thế cho nên vừa có mô típ kiếm vừa có mô típ da vàng. Cả Sử lẫn Lục đều thừa nhận Thánh Tôn mộ đạo Phật nhưng trong huyền thoại của ông chỉ có mô típ nào khác biểu tượng Bụt. Huyền thoại đã rất khách quan : Thánh Tôn chỉ là một tín đồ phật giáo chứ không phải là Tổ sáng lập dòng Thiền mới như Nhân Tôn. Tất nhiên việc thần thoại hoá tiên thiên Nhân Tôn là việc về sau chứ không phải việc thiếu thời. Trong thiếu thời, Sử chỉ ghi hai sự kiện là lấy vợ và học tập. Sử ghi vua Thánh Tôn “chọn người nho học trong nước, người nào có đức hạnh sung vào hầu đông cung”. Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố đều là thầy học của Nhân Tôn. Bản thân Thánh Tông soạn Di hậu Lục để dạy con. Lục ghi sau khi lấy vợ Nhân Tôn vẫn muốn đi tu nên nửa đêm ông trốn đi Yên Tử mà không thành công. Sự kiện trốn đi lên Yên Tử để tu hành thì Sử chỉ ghi cho Trần Thái Tôn. Phải chăng Lục lại mượn sự kiện đó gán cho Nhân Tôn ? cũng như đã mượn giấc mơ đầu thai của Thánh Tôn gán cho Nhân Tôn, đó là hiện tượng xây dựng nhân vật điển hình trong huyền thoại nhân gian ? Theo Lục thì trong thời niên thiếu này Nhân Tôn đã ý thức về việc tu hành, như vậy là được giáo dục cả về Phật giáo, trong Sử chỉ ghi chép việc học nho giáo của nhà vua tương lai. Thời Trần tam giáo (Nho, Phật, Lão) đều được truyền bá trong giới trí thức, cho nên chắc chắn đến tuổi 20 Nhân Tôn đã có hiểu biết về cả tam giáo. Nhưng cũng phải thấy mục tiêu đào tạo bồi dưỡng Nhân Tôn trong thời niên thiếu là Nho giáo (cái gọi là Nho giáo thời Trần là như thế nào là một vấn đề khác) như tư liệu đã dẫn trên đây. Trong thời kỳ này chất vua đang hình thành.

Giai đoạn 2 : (năm 1278 –1290) là giai đoạn mà nhà vua áp dụng tư tưởng đã tiếp thu được vào công việc vương triều dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua cha. Chế độ hai vua là một đặc điểm của nhà Trần mà chưa từng thấy trên nước nào khác trên thế giới cổ đại. Thái thượng không phải chỉ là một cố vấn mà hoạt động như một nhà vua trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự.v.v…thậm chí phế truất cả nhà vua.

Vì vậy trong thời kỳ hai vua thái thượng hoàng vẫn tiếp tục làm vua, vua đang ở ngôi mang ít nhiều tính chất vua – thực tập. Cho nên phải tìm hiểu Nhân Tôn giai đoạn này trong bối cảnh như thế, không thể đơn giản xem tất cả công tích hay khuyết điểm thời Nhân Tôn đều là của cá nhân Nhân Tôn cả. Trong thời kỳ này hai vai lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên. Trong cuộc chiến tranh này Nhân Tôn đã bộc lộ ý chí bảo vệ độc lập dân tộc một cách cương quyết bằng nhiều hành động mà câu thơ đề ở cuối thuyền là một : “Cối Kê cựu sự quân tu ký. Hoan Aùi do tồn thập vạn binh”. (Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ. Hoan Aùi vẫn còn mười vạn quân) mà về sau vẫn chiến thắng được quân Ngô. Không đọc các kinh Xuân Thu, Việt tuyệt thư… thì không thể hiểu điển tích này. Nhân Tôn đã không phụ công giảng dạy của Nguyễn Sĩ Cố, chuyên gia ngũ kinh đương thời. Nhưng câu thơ lại còn biểu hiện một lòng tin sâu sắc vào sức mạnh dân tộc, hoàn toàn lạc quan, tuyệt không có bóng dáng “nằm gai nếm mật” và mỹ nhân kế Tây Thi (tuy Nhân Tôn cũng dùng mỹ nhân kế) của Câu Tiễn. Trong chiến tranh, Nhân Tôn bôn ba khắp nơi cũng không nề hà hiểm nguy gian khổ đến mức có mức một chiếc thuyền con lánh giặt lúc suốt ngày nhịn đói. Ngay sau khi vừa chiến thắng, Nhân Tôn xuống chiếu định hộ khẩu, đem quân đi đánh Ai Lao. Cả hai lần đó triều thần đều can là không nên, phải để cho dân nghỉ ngơi. Nhân Tông đều giải thích cho họ biết là làm như thế là nhằm khiến cho quân Nguyên không dòm thấy dân ta tiêu hao hay cho là quân và ngựa ta chết bại, thế không thể phấm khởi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta. Thủ đoạn dùng ở đây là che giấu thực lực đánh lừa quân thù.

Chỉ huy và trực tiếp tham gia chiến trận đẫm máu, dùng thủ đoạn chiến tranh tâm lý đối với quân thù, Nhân Tôn đã hành động hoàn toàn như một bậc vương giả không một chút bận tâm về giới sát, giới Lục căn mà Khoá Hư Lục đề cao. Nhân Tôn được Ngô Sĩ Liên khen là người “cố hết lòng dân”, nghĩa là đoàn kết được toàn dân chống Nguyên. Cơ sở tư tưởng này là gì ? Có người cho Phật giáo là năng lực tín ngưỡng làm ra sức mạnh Đại Việt, Phật giáo đã đem lại tinh thần đoàn kết. Nhân Tôn đã thể hiện sự toàn kết toàn dân bằng cuộc hội nghị Diên Hồng. Đó là một hành động chính trị quan trọng mà các triều vua trước trong những bối cảnh tương tự đều chưa từng tiến hành, nay duy chỉ trong thời Nhân Tôn mới tiến hành. Cho nên đó là một hành động chung của hai vua chứ không riêng gì của Thánh Tôn (tức thượng hoàng). Chính vì vậy Ngô Sĩ Liên mới khen NhânTôn cố kết lòng dân, còn chỉ khen Thánh Tôn “Tôn người hiền trọng kẻ sĩ” mà thôi. Ngay bản thân thể chế thái thượng hoàng cũng là một biểu hiện của thể chế bô lão công việc trong xã thôn do người sắp lên lão (59 tuổi) thay nhau điều hành dưới quyền lãnh đạo của hội đồng bô lão. Thái thượng hoàng là một loại lão dù tuổi tác chưa cao, nhà vua giống như ông trưởng điều hành công việc trong một thời gian ngắn đến mức chỉ có một năm. Trần Nhân Tôn thấm nhuần tinh thần này đến mức vận dụng cả vào trong tổ chức tăng già, “nhường ngôi Tổ” cho Pháp Loa khiến Pháp Loa chủ trì sơn môn còn ông trở thành Thái thượng Tổ. Cho nên hội nghị Diên Hồng do một quốc lão (thái thượng hoàng) chủ trì, biểu hiện tư tưởng đoàn kết xã thôn truyền thống dân tộc không liên quan gì với tư tưởng Phật giáo cũng như Nho giáo. Chính vì không hiểu điều đó nên nhà nho Ngô Sĩ Liên căn cứ vào thể chế phong kiến phương Bắc mà phê phán “hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn, há không có kế sách gì chống giặc phải đợi ban yến hỏi kế ở các phụ lão ư”. Cũng theo truyền thống dân tộc mà sau ngày chiến thắng Nhân Tôn đã bình công toàn dân chứ không phải riêng các tướng sĩ. Các vua Trần đều có biện pháp nhằm bảo vệ đoàn kết khối hoàng tộc, Nhân Tôn cũng thể hiện chính sách này trong thái độ đối với Trần Hưng Đạo cướp ngôi mới rõ rệt, nhưng nhà vua cũng giao binh quyền và luôn luôn hỏi kế sách chống giặc. Chính thái độ đoàn kết tin dùng đó đã khiến cho Trần Hưng Đạo vứt bỏ mảnh sắt bịt đầu và trừng phạt Quốc Tảng vì đã tỏ ý đồng tình với việc cướp ngôi. Còn đối với Khánh Dư thì Nhân Tôn biết là người tham bỉ nhưng vì có tài làm tướng cho nên vẫn dùng. Khi Khánh Dư thông dâm với chúa Thiên Thuy, vua vì sợ phật lòng Trần Quốc Tuấn nên hạ lệnh đánh chết đồng thời lại ngầm dặn không được đánh chết, để sau này thu dụng lại trên bến Bình Than. Khánh Dư là mẫu con người nặng thanh sắc tài lợi, nhưng dù sau vẫn là người yêu nước. Còn bọn công hầu lén lút đầu hàng quân giặc kia thật đáng tội chết mà hai vua vẫn thủ tiêu bằng chứng, không xem, không truy cứu. Đó không phải là lòng độ lượng. Đó là một thủ đoạn dùng người của vua chúa. Nhân Tôn đã từng khuyên Tông Giáo không nên bất hoà với Củng Viên, gợi ý rằng : “Ngươi làm lưu thủ Thiên Trường, tôn đất quý vàng tặng biến đi lại với nhau có hại gì đâu ? Thật là hiếm có vua khuyên quan hối lộ lẫn nhau! Cho nên mục đích chính sách đoàn kết của Nhân Tôn cũng như các vua Trần khác chỉ vì lợi ích bảo vệ ngai vàng, có khi lợi ích này phù hợp với lợi ích dân tộc. Trong khi thi hành chính sách đó nhà vua không hề xuất phát từ giáo lý mọi người có Bụt trong mình. Va 2như thế Nhân Tôn vô tình hay hữu ý đã khuyến khích lòng tham trái với đều ông viết : “Tham ái nguồn dừng…”, “Dừng hết tham sân mới làu lòng màu viên giác”. Đó là những đều Nhân Tôn viết trong bài phú Cư trần lạc đạo. Bài phú này mở đầu bằng câu : “Mình ngồi thành thị, dùng nét sơn lâm”, đã xác nhận Nhân Tôn viết khi đang làm vua ở kinh đô.

Bài phú Cư trần lạc đạo chứa đấy điển tích Phật giáo Trung Quốc, nhiều đến nỗi ngày nay những nhà nghiên cứu lão thành khá am hiểu điển tích Trung Quốc cũng không thể nào minh giải được hết. Cả Sử cũng như Lục đều ghi khi làm vua, Nhân Tôn nghiên cứu kinh Phật, duy chỉ Lục thì ghi rõ Nhân Tôn học đạo Phật với Tuệ Trung thượng sĩ còn sử không đề cập đến Tuệ Trung thượng sĩ. Tam tổ thực Lục cho rằng Nhân Tôn sau khi chốn vào Yên Tử thất bại, trở về lên ngôi vua, nằm mơ trong chùa Tư Phúc thấy tượng Phật vàng, từ đó ăn chay thường xuyên khiến cho mặt mày gầy héo, tức là cho rằng trong khi làm vua thì Nhân Tôn đã tu tại gia. Sử không ghi về việc Nhân Tôn tu hành tại gia nhưng cũng phủ định đều đó với câu “vui lòng ở kinh Phật”. Lục không ghi về hoạt động chính trị của Nhân Tôn, trong khi thực tế đó là thời kỳ hoạt động chính trị sôi động nhất của nhà vua. Chỉ có từ 1278 – 1282 là 4 năm tương đối yên tĩnh, nhà vua ở tại Thăng Long. Và đó là thời gian “mình ngồi thành thị, dựng nết sơn lâm” nên cư trần mà vẫn lạc đạo.

Như vậy trong giai đoạn hai này con người Nhân Tôn bộc lộ rõ ràng nhất, đầy đủ nhất. Nhân Tôn đã chín muồi với tuổi 30. Chất vua là tính trội của Nhân Tôn trong giai đoạn này, tính Bụt đang hình thành, còn là tính lặn, tuy hiểu biết giáo lý đã sâu sắc. Điều đặc biệt đáng lưu ý là trong hành động Nhân Tôn không chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật tí nào. Phật giáo chỉ thuần tuý có ý nghĩa giải thoát cá nhân, không chỉ đạo hành động xử thế của nhà vua. Nhân Tôn đã tư duy và hành động theo truyền thống dân tộc, truyền thống gia tộc và theo kinh sử Nho gia, tuyệt nhiên không muốn chút Thiền, Thiền học lúc này chỉ gói gọn trong phạm vi thuần tuý cá nhân không chi phối con người Vua. Đời và Đạo chưa hoà lẫn vào nhau.

Giai đoạn 3 : (năm 1290 – tháng 3 năm 1293), là giai đoạn nhà vua Nhân Tôn hoàn toàn độc lập không chịu sự chi phối của thái thượng hoàng nữa. Trong thời kỳ ngắn ngủi khoảng trên 20 tháng này không có sự kiện gì lớn. Trong nước đói to, vua chẩn tế, sau xuống chiếu rằng những người mua lương dân làm nô tì trong năm đói thì nay được chuộc lại, nhưng ruộng đất và nhà ở thì không theo luật ấy. Trong giai đoạn sau này, khi Nhân Tôn đã xuất gia ta sẽ thấy việc chuẩn cấp trong lúc đói mang ít nhiều ý nghĩa Phật giáo. Còn ở đây Nhân Tôn vẫn chấp nhận sự tham lam tài sản, việc giải phóng tì không vì mục đích nhân đạo mà thuần tuý vì quyền lợi vương triều. Cũng cùng một thái độ như vậy Nhân Tôn phạt trượng Phí Mạnh vì tội tham ô nhưng không cách chức mà vẫn để trị dân như cũ. Vua vẫn tiếp tục dùng ân huệ công danh ràng buộc những người phục vụ cho mình, như thăng quan cho Trần Thì Kiến, vỗ về các gia đồng hậu cận vương hầu, mặc dù vua đã viết : “Công danh màng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ…”. Bản chất Nhân Tôn không thay đổi so với giai đoạn trước chứng tỏ Nhân Tôn đã chín muồi từ thời đó và trong thời kì trước, thái thượng hoàng cũng không kìm hãm ông. Tuy nhiên không phải giữa hai vua cái gì cũng nhất trí và tốt đẹp. Ít ra Sử cũng ghi lại trường hợp đáng lưu ý. Trường hợp thứ nhất là việc Nhân Tôn muốn đề bạt Đặng Long làm Hàn Lâm học sĩ, nhưng thượng hoàng không cho, về sau long bất mãn hàng giặc. Trường hợp thứ hai là Nhân Tôn chỉ phong Đỗ Hành làm nội hầu chứ không phong cho tước cao hơn vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên vua mà dâng lên thái thượng hoàng. Bản thân Nhân Tôn cũng chưa thoát khỏi chữ danh.

Giai đoạn 4 : (năm 1921 – tháng 8 năm 1299) là thời gian Nhân Tôn làm thái thượng hoàng dưới triều Anh Tôn. Tháng 8 năm 1294 Nhân Tôn cầm quân đi đánh Ai Lao. Sau đó Sử ghi : “Mùa hạ tháng 6, Thượng hoàng về kinh sư. Đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, lại trở về. Như vậy trước khi vào Yên Tử, Nhân Tôn đã từng xuất gia Vũ Lâm (thuộc địa phận tỉnh Nam Định ngày nay). Vì sao Nhân Tôn đã xuất gia ra Vũ Lâm lại trở về kinh sư. Và vì sao sau này không trở lại Vũ Lâm mà lại vào Yên Tử. Sử hay Lục đều không minh giải trực tiếp. Lục cơ bản không biết đến việc Nhân Tôn xuất gia ra Vũ Lâm. Chỉ có thể suy đoán tư tưởng và hành động này của NhânTôn qua những sự kiện. Điểm lại các sự kiện ngoại giao ta thấy từ sau ngày nước ta thắng quân Nguyên năm 1288 triều đình phương Bắc vẫn không ngừng dòm ngó nước ta.

-          Tháng 7 năm 1291, Nguyên sai Lễ Bộ thượng thư sang sứ đòi vua Trần vào chầu (!). Vua Trần cáo tang không đi.

-          Cuối năm 1293 khi Nhân Tôn vừa mới nhường ngôi thì nhà Nguyên sai Binh Bộ thượng thư sang đòi vua vào chầu. Lần trước sai Lễ Bộ thượng thư sang là để dùng “lễ” răn đe, lần này sách lược ngoại giao “tiên lễ hậu binh” của “Thên tử”. Quả nhiên Đào Tử Kỳ sang sứ từ chối vào chầu thì thấy nhà Nguyên đã lập An Nam hành sách đợi tiến đánh. Chẳng may tháng giêng năm sau Nguyên Thế Tổ chết, họ phải bãi binh vì Thánh Tôn mới lên ngôi lo củng cố địa vị trong nước. Thế mà tháng 2 năm 1295 nhà Nguyên lại sai sứ sang nữa. Có thể năm 1294 với cái chết của Nguyên Thế Tổ, Nhân Tôn cho là nhà Nguyên gặp nhiều khó khăn nội bộ chưa có thể dòm ngó nước ta được nên an tâm xuất gia. Nhưng tình hình không cho phép, sứ đoàn 1295 chứng tỏ quân Nguyên vẫn nhòm ngó nước ta. Tuy Anh Tôn đã cử sứ sang xin kinh Phật có lẽ là để tỏ lòng yêu chuộng hoà bình sẵn sàng đặc quan hệ văn hoá thay cho chiến tranh. Phật giáo đã được đưa vào phục vụ ngoại giao. Nhưng nguy cơ chiến tranh không phải vì vậy mà tắt, hơn nữa Anh Tôn còn say rượu khiến Nhân Tôn đòi cách chức) cho nên Nhân Tôn phải trở lại triều. Và 4 năm sau tình hình yên ổn, nhà Nguyên trên con đường suy vong về tay nhà Minh không đủ sức phát động chiến tranh xâm lược nước ta, Nhân Tôn lại xuất gia kết thúc giai đoạn chính thức làm thái thượng hoàng.

Trong giai đoạn này, Nhân Tôn – Thái thượng hoàng vẫn là một Vua như trong giai đoạn trước. Tính Bụt có lúc đã nổi lên toan chiếm địa vị chủ đạo trong tư tưởng và hành động, nhưng cuối cùng lại trở lại vị trí lặn để 4 năm sau khi Anh Tôn lên ngôi một năm là một trường hợp đặc biệt. Thông thường thời gian các vua Trần làm thái thượng hoàng dài hơn thời gian làm vua rất nhiều. Như vậy chỉ có thể giải thích trường hợp Nhân Tôn bằng lý do hoặc là tính Bụt quá đậm hoặc là Nhân Tôn làm thái thượng hoàng dưới dạng đặc thù – thái thượng hoàng – Bụt. Tình hình sau này chứng tỏ khả năng sau đúng hơn khả năng trước.

Giai đoạn 5 : (năm 1299 đến tháng 3 năm 1301): Trong thời kỳ mà Sử gọi là 8 năm xuất gia đó, thực tế Nhân Tôn tương đối toàn tâm toàn ý tu hành chỉ có từ tháng 3 năm 1299 đến tháng 3 năm 1301 khoảng trên dưới 20 tháng. Nhân Tôn vào yên Tử xây dựng chi đề, tịnh xá, tu khổ hạnh. Sử ghi ghi giai đoạn này rất đơn giản tựa hồ như từ đây không có Nhân Tôn nữa, và theo Lục thì từ đây chỉ còn có Hương Vân đại đầu đà mà thôi. Chính trong thời này Nhân Tôn làm bài Đắc thứ lâm tuyền thành đạo ca. Bài Cư trần lạc đạo mang đậm dấu ấn người tu tại gia giữa đô thành tục luỵ, chứng minh tu hành cốt ở Tâm chứ không phải ở hoàn cảnh, biện pháp, phương tiện hay giáo lý, lo “ngồi am Sạn non Đông”, cũng chẳng kinh Thiền Nam hay Bắc, Đại Thừa hay Tiểu Thừa, cũng không bắt buộc nơi gương Vương lão chém mèo hay thầy Hồ xua chó.v.v…tất cả những điều đó “tuy khác nhiều đàng”nhưng “chẳng khác mộ gang”, bởi vì “Bụt ở cùng nhà, chẳng phải tìm xa, nhân khu Bổn nên ta tìm Bụt, đền cốc hay chính Bụt là Ta”. Nhân Tôn nghiên cứu nhiều giáo lý các tông phái, nhiều sự tích và phương pháp tu hành của các cao tăng đã rút ra một kết luận cho mình là : cư trần mà vẫn có thể lạc đạo, tức Đạo và Đời không phủ định nhau tuyệt đối. Pháp Vân thiền sư trước đó cũng từng nói với Thái Tôn là Phật không có trong núi, Nhân Tôn cũng cùng một dòng suy nghĩ đó. Nhưng rồi cuối cùng vì sao Nhân Tôn vẫn vào núi ? Bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca cho ta hiểu tư tưởng Nhân Tôn lú này, Cốt lõi bài ca ở trong mấy câu : “Kiếm chốn dưỡng thân, vắng vẻ ngàn kia, thân lòng hỷ xả, thanh nhàn vô sự, quét tước đài hoa, thờ phụng Bụt trời”. Rõ ràng Nhân Tôn đi ở ẩn hơn là đi tu. Nếu chỉ nhìn đời độc một giai đoạn này ta có thể cho rằng Nhân Tôn hoàn toàn Bụt, không vướng chút Vua nào trong tư tưởng cũng như trong hành động. Nhưng nếu nhìn chung toàn bộ cuộc đời Nhân Tôn – nhất là giai đoạn tiếp sau đây – thì ta có thể đặc nhiều nghi vấn về chất Bụt trong ông ta lúc này. Không phải chỉ đến ngày nay chúng ta mới nêu ra nghi vấn đó, ngay từ thế kỷ 18 Ngô Thì Nhậm đã viết : “Người ta thấy Điếu Ngự đệ nhất Tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là người xuất gia, ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy không tiện nói ra, sợ người ta dao động cho nên nhắm được ngọn núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng, phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng lên ngôi chùa thời thượng lại chơi để xem động tĩnh, cốt để chừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vi vô lượng Đạ Thế Chí Bồ Tát”. Như trên đã lưu ý, vốn Nhân Tôn đã xuất gia ở Vũ Lâm, vì sự kiện sứ Nguyên mà trở lại kinh sư, sau không trở lại Vũ Lâm mà ra Yên Tử, có thể ngoài lý do tìm kiếm một linh sơn như Huyền Quang đã nói, còn có cả dụng ý chính trị như Thì Nhậm nêu ra nữa.

Đương thời, khu vực Yên Tử nằm trên yếu lộ giao thông thuỷ bộ với phương Bắc, người đi lại dập dìu, quả có thể ở đây mà xem “động tĩnh” được. Chứ không phải Nhân Tôn học tập và phát hiện ra chân lý Trúc Lâm trong vườn Trúc Yên Tử, sở đắc đó ông đạt được ngay khi còn làm vua ở kinh sư. Bài Cư trần lạc đạo giàu chất liệu giáo lý Phật giáo hơn bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca nhiều lần. Về mặt tôn giáo, thời kỳ Nhân Tôn ở Yên Tử chỉ có một mục đích duy nhất là hình hành thông phái : cởi bỏ long bào khoát áo cà sa xuất hiện với tư cách Phật giáng trần; thuyết pháp truyền bá giáo lý mới, thu nhận tín đồ, xây dựng tịnh xá, chi đề hình thành sơn môn tức Tăng, nghĩa là hình thành Tam Bảo (Phật Pháp Tăng) của Trúc Lâm. Trong thời kỳ này không phải Nhân Tôn đã “giấy sồi vo vá”, “bữa đói bữa no” như ông viết. Đó chỉ là hình tượng văn học mà ông dùng cả ngay trong bài phú Cư trần lạc đạo lúc ông đang làm vua. Huyền Quang đã nhắc đến làng Nương, làng mụ là là nơi cư trú thành làng của những người theo hầu ông vua đi tu. Thiền tông bản hạnh bênh vực Tổ bằng cách cho là những người này mộ đạo ở lại đây tu hành. Nhưng chính Tam Tổ thực lục cho chúng ta biết mãi đến sau 4 năm 1308, Nhân Tôn mới đuổi hết những người hầu hạ chỉ còn giữ lại 10 thị giả. Cho nên trong thời kỳ này Nhân Tôn là một ông vua đi tu chứ không trực tiếp cai trị. Thời kỳ này tư tưởng và hành động của Nhân Tôn lấy tính Bụt làm tính trội, tính Vua Vua lắng xuống tuy không triệt tiêu hoàn toàn, cho nên giai đoạn này Nhân Tôn là một Bụt – vua.

Giai đoạn 6 : (năm 1301 – khoảng tháng 10 năm 1303). Đó là thời kỳ Nhân Tôn xuống núi. Theo Lục thì đó là thời kỳ đi thuyết pháp khắp nơi trong nước, phá các dâm từ, truyền bá các giáo lý Trúc Lâm. Đúng là có sự thật như vậy. Nhân Tôn đã mô phỏng lại hành động ngộ đạo – thuyết pháp của Thích Ca Mầu Ni. Nhưng phải trong thời gian này hoạt động của Nhân Tôn chỉ có mục đích Đạo, trái lại ta còn thấy có mục đích Đời, hay nói cho đúng hơn là Đạo – Đời kết hợp. Sử ghi : “Tháng 3 (năm 1301) thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành”. Sử ghi Nhân Tôn đi chơi không hoạt động tôn giáo mà cũng không hoạt động chính trị gì cả. Lục ghi Nhân Tôn trở về chùa Phổ Minh (tức trở lại cung Thiên Trường, nơi cư trú của thái thượng hoàng) mời các danh tăng đến lập hội giảng kinh trong vài năm, rồi đi dạo khắp thôn quê, đến trại Bố Chính dựng am tri Kiến. Đến năm 1304 Nhân Tôn đi khắp làng mạc, xoá bỏ các dâm từ, dạy dân làm mười đều thiện, Anh Tôn mời Nhân Tôn vào cùng giảng đạo cho vua và bá quan…Sau này Thiền Tông bản hạnh lại tô điểm thêm nhiều chi tiết như Nhân Tôn “hành hoá” (xin cơm), thế đầu (cạo trọc) không ai biết là vua. Đó là sự bịa đặt của đời sau nhằm Phật hoá hoàn toàn nhà vua. Việc Nhân Tôn đi thuyết pháp khắp nước nhằm thống nhất ý thức hệ toàn dân dưới một hệ thống tín ngưỡng là điều có thực. Điều đáng lưu ý là Lục ghi Nhân Tôn chỉ đến Bố Chính, còn sử ghi Nhân Tôn đến Chiếm Thành. Sử đúng, vì sau này Nhân Tôn còn tiếp tục giải quyết sự kiện Huyền Trân. Không phải đột nhiên mà có sự kiện này.

Sử ghi :

-          Tháng 2 năm 1301 Chiên Thành sang cống.

-          Tháng 3 năm đó Nhân Tôn sang Chiêm Thành.

-          Tháng 11 năm đó Nhân Tôn từ Chiêm Thành về.

-          Khoảng năm 1304, Doàn Nhữ Hài đi sứ Chiếm Thành, trước khi đi có bái yết thượng hoàng ở chú Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Thượng hoàng nói chuyện với Nhữ Hài hơn một giờ.

-          Tháng 2 năm 1305, Chiêm Thành sai người sang cầu hôn. Các quan triều đều cho là không nên, duy có Đạo Tái và Trần Khắc Chung tán thành nên mới quyết.

Tựa hồ như sự kiện này không liên quan gì đến Nhân Tôn. Đoàn Nhữ Hài và cả Anh Tôn. Sử miêu tả Đạo Tái và Khắc Chung như là hai nhân vật chính của sự kiện Huyền Trân. Nhưng đột nhiên sử lại ghi :

-          Mùa hạ tháng sáu năm 1306 gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân vì “trước đây thượng hoàng đi chơi các địa phương, sang Chiêm Thành đã chót hứa gả con gái cho”. Trong triều và trong nước nhiều người làm thơ nôm chê cười là “Cống Hồ”. Và Ngô Sĩ Liên bực dọc phê phán : “Nhân Tôn đem con gái gả cho vua nước Chiêm Thành là nghĩa gì ? Nói rằng Nhân Tôn khi đi chơi mà trót hứa gả, sợ thất tín, thì sao làm việc đổi mệnh có được không ? Vua giữ ngôi trời mà thượng hoàng đã xuất gia rồi, việc đổi mệnh thì có khó gì…”

Như vậy sự việc đã quá rõ ràng. Nhân Tôn là người đạo diễn vụ hôn nhân chính trị này, Nhữ Hài là người thực thi, Đạo Tái và Khắc Chung là người ủng hộ. Còn Anh Tôn đã Nhữ Hài đi Chiêm Thành nhưng lại sai đến yết Kiến Nhân Tôn, và Nhân Tôn khen Anh Tôn chọn đúng người tài cáng đáng công việc này, như vậy Anh Tôn không phải là người đứng ngoài cuộc. Có chăng cách làm việc này chứng tỏ từ năm 1301 về sau Nhân Tôn vẫn là thái thượng hoàng, chứ không phải là con người đã “đắc ý công lòng, cười miệng ha hả, công doanh chẳng chuộng, phú quí chẳng màng, Tần Hán xưa kia, xem đà nhạn hạ…trần duyên rũ hết, thị phi chẳng hề,…học đòi chư Phật, cho được viên thành”. Và Ngô Sĩ Liên đã ngây thơ cho rằng Anh Tôn có thể đổi mệnh được và cũng ngây thơ tin rằng Nhân Tôn đã xuất gia thoái tục, không những không muốn quan tâm việc trần thế mà còn không có quyền tham gia việc triều chính.

Sự kiện Huyền Trân càng về sau càng chứng tỏ vai trò thái thượng hoàng của Nhân Tôn trong giai đoạn này.

-         Tháng giêng năm 1306 đổi 2 châu Ô Lý, lễ vật dẫn cưới của Chế Mân thành châu Thuận và châu Hoá. Lại chính Đoàn Nhữ Hài đến đó vỗ yên nhân dân.

-         Tháng 5 năm 1306 Chế Mân chết, tháng 10 năm đó Trần Khắc Chung đi đoán Huyền Chân công chúa.

-         Tháng 8 năm 1308 “công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về. Thượng hoàng sai trại chủ Hoá Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm về nước).

-         Sự kiện Huyền Trân kết thúc và chỉ 3 tháng sau Nhân Tôn vĩnh viễn từ giã trần ai.

-         Sự kiện Huyền Trân chứng tỏ Nhân Tôn “tái xuất chính” sau gần 2 năm ở núi. Trong khi giải quyết sự kiện này Nhân Tôn dùng biện pháp cổ truyền, tức dùng quan hệ hôn nhân như một thủ đoạn chính trị. Bản thân sự kiện cũng như tư tưởng chỉ đạo không quan hệ gì đến Phật giáo. Đây là một hành động Vua do một tư tưởng chính trị chỉ đạo. Sự kiện này bộc lộ rõ ràng bản chất Vua của con người đã “ngộ đạo” thốt ra những lời lẽ siêu thoát từ trên núi Yên Tử. Nhưng phải chăng trong thời kỳ này Nhân Tôn chỉ hành động Vua không có hành động Bụt.

-         Sử ghi : “Mùa xuân tháng giêng (1303), ngày 15, thượng hoàng ở phủ Thiên Trường, mở hội Vô Lượng ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp cho người nghèo trong nước và giảng kinh giới khí”. Tam Tổ thực lục cũng ghi sự kiện này nhưng không nói đến chẩn cấp. Cho nên đọc Lục ta có cảm tưởng hội Vô Lượng chỉ là một hoạt động thuần tôn giáo. Trái lại sử cho ta thấy hai mặt của sự kiện : chẩn cấp của Vua và thuyết pháp răn đời của Bụt. Vì sao có sự kiện này ? Sử ghi rõ năm 1301 đói to, năm 1302 có cuộc nổi loạn của Biếm, đạo sĩ phương Bắc tên là Hứa Tôn Đạo theo thuyền buôn đến phường Yên Hoa (tại kinh đô NDH) bày trò phù thuỷ và đàn chay. Rõ ràng tình hình trong nước lúc bấy giờ đói và loạn, loạn cả về chính trị (nổi dậy), loạn cả về tư tưởng (tà đạo). Đó là nguyên Nhân khiến cho Nhân Tôn mở hội Vô Lượng. Mục đích chủ yếu là dùng tiền bạc xoa dịu mối loạn chính trị, giảng kinh Phật răn đe để trấn áp mối loạn về tư tưởng. Sự kiện hội Vô Lượng là hiện tượng dùng tôn giáo phục vụ chính trị. Ở đây chất Vua và chất Bụt cùng tồn tại, Bụt phục vụ Vua, trong hợp này Nhân Tôn xuất hiện như một Vua – Bụt.

-         Ngoài sự kiện trên đây, trong những năm sau của thời kỳ này Nhân Tôn thường xuyên đi lại tại các chùa Báo Aân ở Siêu Loại, chùa Sùng Nghiêm ở Chí Linh, chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang. Nhânn Tôn quanh quẩn ở khu vực cuối đoạn đường ven biển theo chân núi đi từ phía biên giới Việt – Trung đến đây để vượt qua sông tiến vào đồng bằng thông lên kinh đô – con đường xâm lược cổ truyền của phong kiến phương Bắc. Có thể suy luận là Nhân Tôn khống chế đầu mối yếu lộ này chăng ? Nhưng dù sao trong khi thuyết pháp ở các chùa, Nhân Tôn đã đề cập đến những vấn đề thuần Tôn giáo như Phật, Pháp, Tăng, Sắc, Không…

-         Năm 1307 Nhân Tôn truyền y bát cho Pháp Loa, và như thế là Nhân Tôn biến thành thái thượng – Tổ. Nhân Tôn đã đưa chế độ thái thượng hoàng vào Tăng hội. Đó là yếu tố Vua thâm nhập vào thế giới Bụt một cách cụ thể nhất, nhưng không phải là trường hợp duy nhất. Việc Nhân Tôn đi thuyết pháp tuyên truyền Phật giáo đồng thời xoá bỏ các dâm từ – tức xoá bỏ các dị giáo bằng bạo lực, đó cũng là một hoạt động Vua không theo truyền thống Phật giáo.

-         Tóm lại, trong thời kỳ này yếu tố Vua đang lặn trong giai đoạn tu ở Yên Tử thì nay tăng vụt lên thành yếu tố trội. Chúng ta gặp một Vua – Bụt, yếu tố phục vụ cho yếu tố Vua. Đó là điểm khác cơ bản trong tư tưởng và hành động của Nhân Tôn so với tất cả các giai đoạn.

Giai đoạn 7 : (khoảng tháng 10, 11 năm 1308). Đây là những ngày cuối cùng của Nhân Tôn. Sau sự kiện Huyền Trân hoàn toàn kết thúc vào tháng 8 năm 1308 thì Sử ghi tháng 11 năm đó “thượng hoàng băng ở am Ngoạ Vân” và nhắc nhở đến việc Nhân Tôn về công chúa Thiên Thuy. Lục cơ bản cũng ghi như thế, nhưng ghi thêm những hoạt động tôn giáo như hạ ở chùa Vĩnh Nghiêm, đuổi hết tịnh nhân và tam bảo nô chỉ giữ lại 10 thị giả rồi vào các mái đá ngồi thiền, hay giảng Truyền đăng Lục cho Pháp Loa. Khi đi thăm Thiên Thuy thì không về đến Yên Tử mà tịnh ở am Ngoạ Vân thuộc Yên Sinh.

Những lời thuyết pháp và lời cuối cùng nói với Bảo Sái của Nhân Tôn là tư liệu quí giá để hiểu quan niệm của Nhân Tôn về những vấn đề cơ bản của Thiền Tông. Dù sao đi nữa trong thời gian ngắn ngủi này Nhân Tôn đã xuất hiện với tư cách Bụt chứ không với tư cách Vua, gần hoàn toàn là Bụt, Bụt đứng trước ngưỡng cửa Niết Bàn. Thái độ đối với cái chết của Nhân Tôn bộc lộ rất rõ ràng, ông điềm nhiên đón lấy giây phút cuối cùng của mình không chút xúc động cũng không chút ảo tưởng về thế giới bên gia:

Nhất thiết Pháp bất sinh

Nhất thiết Pháp bất diệt

Được năng như thử giải

Chư Phạt thường hiện tiền

Hà khứ lai chi hữu.

Nghĩa là pháp không sinh nghĩa là cũng không có diệt, nếu hiểu được như thế thì lúc nào cũng thấy Phật, làm gì có việc đi và về. Không có việc Đi (từ bản thể tách ra, tức là sinh), Về (trở lại bản thể, tức chết) gì cả. Trước khi sinh ra là Phật, khi đang sống là Phật, sau khi chết cũng là Phật. Làm gì có sinh tử. Đã vậy thì làm gì có luyến tiếc trần ai, làm gì có cầu mong Niết Bàn. Thái độ này giống như Tuệ Trung thượng sĩ. Đó là cốt lõi Trúc Lâm.

Tóm lại, sau khi khảo sát toàn bộ cuộc đời Nhân Tôn một cách chi tiết và cụ thể đến mức tư liệu cho phép, chúng ta thấy Nhân Tôn thực chất là một Vua – Bụt, chỉ từ những khoảng thời gian rất ngắn tính Bụt nổi cao hơn tính Vua, chứ không bao giờ là Bụt – Vua cả. Bụt là tu thân, Vua là vị quốc, cơ bản hai điểm này tách biệt nhau, chứ không kiêng hệ theo cái logic cổ truyền phong kiến phương Bắc : tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ. Nhưng Bụt và Vua không phải hoàn toàn độc lập với nhau. Nhân Tôn dùng Bụt như một phương tiện để thống nhất ý thực hệ hoàn toàn nhằm qui về một mối cả vương quyền lẫn thần quyền, một hình thức Thần – Vua phổ biến ở Đông Nam Á cổ đại. Một hình thức đặc thù : Vua – Thần chứ không phải Thần – Vua.

Vậy thì Nhân Tôn trị quốc theo tư tưởng chỉ đạo nào ? Nhân Tôn tu thân theo quan niệm, phương pháp và mục đích như thế nào ?

Trước tiên ta thấy Nhân Tôn trị quốc theo truyền thống dân tộc thể hiện rõ nét ở tinh thần yêu nước bất khuất và tinh thần đoàn kết xã thôn theo thể chế bố lảo. Nho học đã thâm nhập trong giới trí thức đương thời, nhưng chỉ có một bộ phận cực kỳ nhỏ theo giặc. Kinh sách Nho gia cực lực đề cao vai trò thiên tử mà các vua Trần vẫn xem trọng nhân dân.

Thứ đến Nhân Tôn trị nước theo truyền thống gia tộc Trần mang tính chất thực dụng chủ nghĩa khá đậm. Trong khi xử lý những sự kiện chính trị xã hội, các vua Trần nhằm thẳng vào mục đích cuối cùng chứ không xuất phát từ một tiêu chuẩn đạo đức giáo điều nào trong kinh sử mà họ có học kỹ. Để bảo vệ ngai vàng cho gia tộc, họ không ngần ngại thi hành chính sách hôn nhân trong nội bộ gia tộc, bất chấp cái gọi là loạn luân mà Nho gia cực kỳ khinh bỉ. Cũng không ngần ngại dân công chúa An Tư cho Thoát Hoan, cũng bất chấp lời chế diễu “cống Hồ” cứ gả Huyền Trân cho Chế Mân. Việc khuyên Tòng Giáo hối lộ Củng Viên, việc huỷ các bằng chứng đầu hàng giặc của một số quân lại, cách xử lý van đề Trần Khánh Dư.v.v…tất cả đề thấm nhuần tinh thần thực dụng nhằm củng cố ngai vàng họ Trần.

Nhân Tôn cũng xử sự theo Nho giáo phần nào. Dung bá công danh để động viên quan lại, dùng ân huệ để mua chuộc lòng người, vẽ tượng chép tên vào Trung Hưng thực lục những người có công dẹp giặc, dùng thơ phí điển tích Trung Quốc để cổ động lòng người. Nhưng ở Nhân Tôn ta chưa thấy thể hiện triệt để tư tưởng tam cương ngũ thường cũng như cái tôn ti trật tự theo chế độ tông pháp khắc nghiệt của Nho giáo nhất là Tống Nho.

Nhân Tôn cũng hiểu biết đạo lão. Trong thơ ca của ông thể hiện tư tưởng tiêu giao nhàn tản hoà bình vào thiên nhiên, nhưng tuyệt không dẫn đến hành động chính trị kiểu vô vi. Nhân Tôn xây dựng lại am Dược, nói đến dân thần, trường sinh, hoán cốt, tiêu dao, dưỡng sinh. Những đều đó ngày nay người ta thường xem là đạo lão, nhưng thực ra đó không phải là nội dung đạo Lão với tư cách là một trường phái triết học cổ đại Trung Quốc. Mà đó là một mớ hỗn tạp nhiều dòng tư tưởng của tri thức Trung Quốc chán ngán sự đời mai danh ẩn tích trong rừng núi với cỏ cây từ thời Tam Quốc. Nhân Tôn có nói đến trường sinh nhưng thực ra ông có ý thức mưu cầu trường sinh bởi vì ông đã nhận thức không có Đến không có Đi.

Luồng tư tưởng Phật giáo trong Nhân Tôn biểu hiện cụ thể ở quan niệm Phật, về giải thoát. Bụt là gì ? Nhân Tôn đã trả lời câu hỏi dai dẳng trong Thiền Tông này một cách hoàn toàn mới : “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa. Nhân khuy bản nên Ta tìm Bụt, đến cốt hay chính Bụt là Ta” (Cư trần lạc đạo về 53 – 56).

Giải thích Phật từ Tâm không phải đã nối lên được “nhân khuy bản nên ta tìm Bụt”. Bởi vì ta đánh mất Ta cho nên Ta mới tìm Bụt, rõ khéo ngớ ngẫn. Bụt chính là Ta. Một suy tư làm cho chúng ta chợt liên hệ đến ý kiến về con người đánh mất mình và sự tha hoá của con người mà Mác đã nói đến với một ý nghĩa và tầm cỡ khác. Nhân Tôn tin tưởng Phật tính không phải bằng lý thuyết về Đại Ngã và Tiểu Ngã, và bằng lòng tin vào bản năng tốt đẹp của con người. Chỉ cần chống lại cám dỗ của thanh sắc, công danh, phú quí tất Ta lại tìm được Ta. Không nhất thiết phải xuất gia, không nhất thiết phải ngồi thiền.

Cư trần lạc đạo thả thuỳ duyên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Cơ tắc xan hề khốn tắc niên

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Cứ sống giữa trần tục không cần trốn đời cũng vẫn mộ đạo. Trong bản thân mình đã có Phật (bảo), không cần đi tìm đâu cả. Cứ sống tự nhiên, đói ăn mệt ngủ. Chỉ cần Tâm không vọng động trước cám dỗ của cuộc đời đến mang nghiệp vào thân. Được thế thì cần gì đến Thiền. Đ1o là con đường tu nhân để giải thoát của Nhân Tôn. Nhưng chưa bao giờ ta thấy Nhân Tôn đem lý luận này xử lý công việc quốc gia. Tu nhân, trị quốc là hai đều khác nhau trong con người Nhân Tôn. Đạo là Đạo, Đời là Đời. Nói như thế không có nghĩa là hoạt động tôn giáo của Nhân Tôn không có mục đích. Nhân Tôn đã dùng giáo lý Trúc Lâm làm phương tiện thống nhất ý thức hệ toàn dân, hòng tóm thần quyền vào tay các vua Trần. Cho nên trước sau Nhân Tôn cũng chỉ là một ông Vua dù là một ông Vua – Bụt (chứ không bao giờ là một Bụt – Vua cả) thì cũng là Vua không hơn không kém./.

GHI CHÚ :

  1. Trong bài này chủ yếu tôi dựa vào Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, bản dịch của Việt Sử học, NXB khoa học xã hội, Hà Nội 1967, tập II, Gọi tắc là Sử, trong chú thích ghi TT I và tài liệu thứ hai là Tam Tổ thực Lục bản A2064 của Thư viện Viện thông tin tại Hà Nội, gọi tắc là Lục.

Trong bài tôi dùng năm Dương lịch cho tiện theo dõi trong khi ngày tháng vẫn dùng Aâm lịch.

Cũng để tiện theo dõi tôi dùng suốt bài hai chữ “Nhân Tôn” mà không thay đổi gọi hay danh hiệu theo các giai đoạn hoạt động của nhà vua này.

  1. Thể chế vua – Thái thượng hoàng phản ảnh rõ nét qua bảng thống kê lập trên cơ  Đại việt Sử ký toàn thư sau đây:

Đời vua

Ở ngôi

Nhường ngôi

Làm vua 1 mình

Tuổi thọ

Tuổi lúc làm vua

Thái Tôn

33 năm

19 năm

(a)

69 tuổi

17-50 tuổi

Thánh Tôn

21 năm

13 năm

3 năm

51 tuổi

17-38 tuổi

Nhân Tôn

14 năm

05 năm

3 năm

51 tuổi

21-35 tuổi

Anh Tôn

21 năm

06 năm

17 năm

45 tuổi

18-39 tuổi

Minh Tôn

15 năm

28 năm

10 năm

58 tuổi

15-30 tuổi

Hiến Tôn

13 năm

0

0

23 tuổi

10-23 tuổi

Dụ Tôn

28 năm

0

12 năm

34 tuổi

6-34 tuổi

Nghệ Tôn

03 năm

27 năm

3 năm

74 tuổi

44-47 tuổi

Duệ Tôn

04 năm

0

0

41 tuổi

37-41 tuổi

Phế Đế

12 năm

0

0

28 tuổi

16-28 tuổi

Thuận Tôn

09 năm

0

4 năm

22 tuổi

12-21 tuổi

Thiếu Đế

02 năm

0

0

 

3–5 tuổi

a)    Thái Tôn là vua đầu tiên không có thái thượng hoàng nhưng thực tế có Trần Thủ độ như thái thượng hoàng.

b)    Nghệ Tôn làm thái thượng hoàng cho nhiều vua.

  1. TT II Tr.51
  2. TT II Tr.57
  3. TT II Tr. 66
  4. Nguyễn Đăng Thục. Phật giáo Việt Nam. Sài Gòn 1974, tr.31, 33
  5. TT II, Tr. 18 ghi chế độ đời Trần 60 tuổi là lão, dưới 60 tuổi là đại hoàng nam. Thường các tư liệu thế kỷ 19 cho 50 tuổi là lão.
  6. TT II, Tr. 50
  7. Cũng chưa chắc là Hưng Đạo vốn không bao giờ có tư tưởng cướp ngôi như nhiều người nghĩ. NDH
  8. TT II, Tr.63
  9. Trần Nhân Tôn. Cư trần lạc đạo. Theo Hoàng Xuân Hãn trong tập san Khoa học và xã hội số 5. Paris 1980
  10. TT II, Tr.68
  11. TT II, Tr.68
  12. TT II, Tr.69
  13. Cư trần lạc đạo. Sách đã dẫn.
  14. TT II, Tr.65
  15. TT II, Tr.64
  16. TT II, Tr.74
  17. Xem bảng thống kê ở chú thích đã dẫn ở trên
  18. Ngô Thị Nhậm. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh trong Ngô gia văn phái. Dẫn theo Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhận, quyển 1, Tr.39. NXB khoa học xã hội, Hà Nội 1978.
  19. Tam Tổ thực Lục, Tr.3a
  20. Có thể vì Lục nhận thức được việc đi Chiêm thành gắn liền với sự kiện Huyên Trần nên đó là phần đời của Nhân Tôn, do đó Lục không ghi chép. Đó là thái độ nhất quá của Lục. NDH.
  21. TT II. Tr.87
  22. TT II Tr.91
  23. TT II Tr.91
  24. TT II Tr.93
  25. Trần Hán xưa kia là nói đến chiến tranh giữa Trần và Hán. NDH
  26. Trần Nhân Tôn. Đắc thú lâm tuyền thanh đạo ca.
  27. TT II, Tr. 94
  28. T II, Tr.88