|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
ĐỂ YÊN TỬ |
|
MÃI LÀ YÊN TỬ |
|
KST NGUYỄN TRỰC LUYỆN |
|
Chủ tịch Hội Kiến Trúc sư Việt Nam |
|
Chủ tịch Hiệp hội câu lạc bộ UNESCO Việt Nam |
|
Các
vua đầu đời Trần có công lớn trong lịch sử của dân
tộc ta, cả trong việc dựng nước cũng như trong việc giữ
nước, với 3 lần đại thắng quân Nguyên – Mông xâm lược
mà mọi người Việt Nam đều tự hào. Cuộc gặp mặt của
chúng ta hôm nay gắn với một công tích mang ý nghĩa sâu
sắc về tinh thần và văn hoá trong sự nghiệp dựng nước
huy hoàng không kém chiến tích giữ nước của triều Trần,
đó là việc tạo dựng “thiền phái Trúc Lâm”- Một
Phật phái của Việt Nam, với đất tổ là Yên Tử. Khởi
đầu bằng sự từ bỏ kinh thành ra đi của vua Trần Thái Tông,
và đạt tới đỉnh cao 63 năm sau với Trần Nhân Tông, ở
độ tuổi 41, dứt bỏ vị thế quân vương “Bỏ áo rồng
cao sang lên non xanh cắt tóc, mặc chim thước làm tổ trên
đầu, nhện giăng tơ trên vai…” Về Yên tử, chọn con
đường tu hành “ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước
suối” mà trở thành nhà tư tưởng đầu tiên của Phật
phái Việt Nam, và Yên Tử trở thành đất Phật trong tâm
thức người Việt. Từ
bấy đến nay, 7 thế kỷ đã đi qua, có biết bao biến thiên
trong lịch sử dân tộc, lại thêm sự nghiệt ngã của tự
nhiên nên Yên Tử phải chịu những đổi thay, những mất mát.
Yên Tử ngày nay vẫn còn đó một địa linh. Địa linh ấy
lấy cảnh sơn lâm làm chủ thể, và đâu đó như còn vương
lại những dấu tích
của bàn ta con người xưa. Cách bố cục tưởng như vô tình
đó cùng với sự tịch mịch của núi rừng, hợp nên cái
thần của Yên Tử. Công cuộc phục hưng thành địa Yên
Tử ngày nay, nếu bỏ qua các yếu tố trên, có nghĩa là ta
đã làm mất đi cái hồn của Yên Tử. Trong
bộn bề cuộc sống hôm nay, lòng người Việt đang hướng
đến những giá trị của tâm thức dân tộc, tới vốn
liếng văn hoá lâu đời của tổ tiên. Nhưng cũng đồng hành
cả với những thói quen hư tật xấu của lòng tham và mưu
cầu vụ lợi, lại được nhân lên bằng sức hút thị trường
đang còn trong buổi hỗn mang ở ta lúc này. Sự đan xen lẫn
lộn tối sáng có mặt trong mọi khía cạnh của cuộc sống
chúng ta, cả trong thái độ ứng xử với di tích lịch sử
văn hoá đã và đang bị xã hội lên án. Kể cả sự xâm
hại trá hình dưới chiêu bài “khai thác di tích”, không
phải là không có, và còn là đáng lo ngại, và càng đáng
lo hơn khi sự kém hiểu biết, không tinh thông nghiệp vụ
lại vào hùa với thái độ nôn nóng, lo làm ăn, cho chạy
việc. Di tích và cảnh quan trở nên thật mõng manh, khi mà cánh
tay con người được nối dài thêm bằng những công bằng
những công cụ và máy móc hiện đại. Mong sau Yên Tử tránh
được cơn lốc hiểm hoạ này! Vì niềm mong đó mà xin phép
được góp đôi điều suy nghĩ đang còn ở mức sơ khai. 1.
Về ý tưởng (quan điểm): Đối
với Yên Tử thì điều quan trọng trước hết là mọi
việc làm ở đây, to thì như mở đường, đựng nhà, nhỏ
– như xếp đá bó thềm, làm bậc đi, đều phải bám sát
ý tưởng chủ đạo là tôn trọng, giữ gìn cho được
những yếu tố đặc thù, những giá trị cụ thể tạo nên
vị trí thế đặc biệt, nét riêng độc đáo của Yên Tử,
và chỉ riêng Yên Tử mới có trong tổng thể các di sản Văn
hoá của dân tộc. Chúng
ta có Hội đền Hùng – hàng năm con cháu hồ hởi về với
tổ tiên. Dân ta đầu xuân nô nức trảy Hội của Hương mà
phần nhiều là đi vãng cảnh du xuân. Đến với Yên Tử là
hành hương về đất Phật, gợi trong tâm thức mỗi người
những liên tưởng về sự khổ luyện của tu hành mà thong
dong, nhà tản trong sự dễn dàng, không hợp với non thiêng
Yên Tử. Càng không là hành hương về cõi Phật. Chính là cái
thần của Thiền của Phật đã làm nên hồn cho Yên Tử, và
nó phải luôn ngự trị trong tâm, trong trí của những người
hành hương đến đất này. Yêu cầu mang màu sắc tâm linh
ấy phải bao trùm và thống soát tất cả, không khí lễ
hội gắn với du lịch cần được hạn chế trong không gian
nhất định. Rất cần sự suy tính thận trọng để Yên
Tử không bị rơi vào “thông tục hoá”, “trần tục hoá”
như đã xảy ra ở lễ hội một số nơi. Yên Tử đòi hỏi
một môi trường và cảnh quan không gian đặc biệt, phải
giữõ được vẻ nguyên sơ đượm màu khắc khổ và thử
thách vốn có, chỉ với cây rừng và đá tảng, đá và cây
trong sự tự nhiên của trời đất, mọi sự có mặt của
những gì là nhân tạo, là hiện đại cần được hạn
chế đến tối đa và khéo léo dấu khuất đi. 2.
Về yêu cầu: Yên
Tử là tổng thể kiến trúc cảnh quan, trải rộng trên
một giãi địa thể và địa hình phong phú và phức tạp,
bao chứa trong lòng những giá trị trên nhiều mặt, đang còn
tiềm ẩn bởi tác động của thời gian. Việc giữ gìn,
phục dựng và tổ chức hoạt động của tổng thể này
phải được nhìn nhận như 3 thành phần liên hoàn và gắn
kết trong một dự án tổng thể với sự tham gia của
nhiều bộ phận chuyên ngành, mà trước hết là lịch sử và
khảo cổ, là kiến trúc và cảnh quan, là môi trường và lâm
sinh, là tôn giáo và du lịch … mỗi ngành ở đây đều có
những yêu cần riêng, nhưng tất thảy những yêu cầu
những phân định chung như: du lịch không được lấn lướt
tôn giáo, kiến trúc phải dấu mình trong lòng cảnh quan thiên
nhiên, lịch sử được minh định qua khảo cổ, làm cơ sở
cho việc tôn tạo và tổ chức cảnh quan cũng như tạo
dựng kiến trúc. 3.
Về phương pháp Yên
Tử hình thành dưới triều Trần, theo truyền tụng trong dân
gian lớn nhỏ có tới 800 công trình kiến trúc, là chùa, tháp,
am, v.v…. Với lịch sử trên 700 năm, đương
nhiên Yên Tử đã tiếp nhận trên các công trình cũng
như cảnh quan của mình, những dấu ấn kiến trúc của các
triều đại sau đó (Lê và Nguyễn). Những gì chúng ta thấy
được ở Yên Tử hôm nay có niên đại
muộn hơn nhiều, và việc cần làm tới đây là tu
bổ, tôn tạo và phục dựng. Cái gì là tu bổ, ở đâu là
phục dựng, và những việc ấy cần làm theo điều kiện
của chúng ta lúc này nói chung và nói riêng cho Yên Tử.
Trở về với kiến trúc Trần có phải là điều nhất
thiết? Và liệu có là khả thi? Hơn nữa, với đặc thù
của địa thế Yên Tử, chùa tháp Trần nơi đây hẳn cũng
là những nét rất riêng khác so với kiến trúc Trần chung mà
cho đến nay quả thực chưa chúng ta đã biết một cách tường
tận và xác thực. Thiết
nghĩ, để quyết định làm gí, và khẳng định làm thế nào,
thì việc trước hết cần làm là tiến hành khảo cổ.
Những thông tin từ lịch sử còn đang ẩn giấu trong lòng đất là chỗ duy
nhất và tin cậy cho chúng ta trong công việc hệ trọng và
phức tạp này. 4.
Về thái độ: Gần
đây trong tu bổ tôn tạo các di tích đã gắn việc khiến
ta phải suy nghĩ về một thái độ thận trọng khoa học
rất cần trong công việc nhạy cảm này. Xưa nay việc thổ
mộc – dựng nhà vốn đã được coi là việc lớn và hệ
trọng của một đời người, không chỉ vì tốn kém, mà còn
vì những hệ quả sau đó trong cuộc sống, không chỉ với
chủ nhân, còn động chậm tới xóm giềng, ảnh hưởng
tới sinh hoạt cộng đồng … mà một khi đã dựng lên
rồi đâu có dễ phá bỏ đi! Vì thế trước khi khởi dựng
vào giờ cũng phải suy tính và ước định trước mọi
thứ – đấy là thiết kế, và do những con người có
nghề làm. Với
di tích văn hoá sự thận trọng ấy phải được nhân lên
gấp bội, bởi vì sai – đúng ở đây hệ luỵ ngay đến
sự mất – còn, đến số phận của di tích. Sự thận
trọng trong công việc của ông thợ may, như thường nói: 7
lần đo mới 1 lần cắt – đem vận dụng vào đây cũng không
phải là quá đáng. Sự nôn nóng và vội vàng đi cùng với
cách suy nghĩ sơ lược và dễ dãi trong nghề
nghiệp, đã và đang là mối nguy trực tiếp đe doạ
huỷ hoại các giá trị của di sản. Sự
thật trọng cần thiết và quý giá ấy được thể hiện trước
hết qua việc lập dự án và làm thiết kế. Không hiểu sao
cho đến nay không chỉ trong xây dựng nói chung, ngay cả
trong việc bảo vệ di tích nói riêng, việc khảo sát thiết
kế thường bị coi nhẹ. Một số người có hiểu biết, có
nhiệt huyết đã nhận xét là chỉ thấy có vận động “công
đức” cho tu bổ phục dựng đình chùa, mà chưa bao giờ
thấy có vận động công đức cho việc khảo sát nghiên
cứu lập thiết kế đẻ giữ gìn chúng như những di tích
cả. Nhận xét trên có cay đắng, nhưng không phải là không
đúng, và đáng để ta suy nghĩ.
|