HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ

TRÚC LÂM YÊN TỬ
MỘT ĐỈNH CHUNG VĂN HOÁ VIỆT PHẬT
MỘT TÂN BẢN THỐNG NHẤT TIỀN TÔNG BẬC CAO
Bài: Trịnh Yên – Ủy viên BCH
Hiệp hội CLB UNESCO Việt Nam

          Đã hơn 700năm, hiện diện của Đạo tổ Việt Phật Trúc Lâm ( Yên Tử ) không những toã sáng trên các lỉnh vực  lịch sử văn hoá xuyên suốt của nhiều thời cuộc mà ảnh hưởng của dòng đại quốc đạo này cũng điểm nhiều dấu son trong vai trò lịch sử duy trì khối đoàn kêt dân tộc, đặc biệt hiện diện của Trúc Lâm đã tạo ra sự nhấn đậm, về một nền văn hoá tâm linh với tính nhập thế, nhập tri thức, nhập tâm bản thiện  cho người Đại Việt bằng ý thức và tinh thần hướng xã hội tới hoàn thiện nhân cách, nêu cao tính tự chủ, độc lập của một sắc thái văn hoá và tính ngưỡng Phật đạo cơ bản, nhưng đã biết thông qua sự lựa chọn các dòng văn hoá ảnh hưỡng đê tôn vinh, khơi dậy và truyền thừa các tư tưởng văn hoá Việt Nam kết tụ bằng các luận thuyết về đạo đức và lý trí với đời sống xã hội mà các trước tác, tác phẩm của Trúc Lâm được người đời quen gọi một cách kính tín là kinh và Pháp Trúc Lâm.

Trong tham luận này chúng tôi thấy cấn thiết phải phát hoạ một đạo phật Trúc Lâm Việt Nam với qui mô đương thời của một thế hệ Tam Tô hoằng pháp cũng như sự hoàn thiện của giới đạo Trúc Lâm trong các giá trị di sản văn hoá dân tộc trên lảnh địa miềng Bắc nói chung và lan toã về miền Nam nói riêng từ trước đến nữa cuối thế kỷ 20.

Nhìn chung nhiều người vẫn cho rằng đạo Phật Trúc Lâm cũng như các giới đạo phật trước đó vốn ảnh hưởng từ Trung Quốc, Aán Độ trong nhiều thế kỷ nay, nhưng chúng tôi thấy một lẽ khác bởi xuất phát điểm tạo phật cũng không ở Trung Quốc, cũng không hẳn từ đức Thích Ca Mâu Ni của nước Xá Vệ, mà ta có thề nói do đức Thích Ca Mâu Ni là người đã tự đi đến đỉnh cao do “Tâm tính niệm hoá Phật” mà thối, bởi Ngài sau lối tu chiêm nghiệm Tiểu và Trung thừa vẫn không thấy giải thoát,bèn hướng vào lối tu Đại Thừa thì đắc quả. Như vậy Trung Quốc cũng chỉ là một điểm tập trung để hoàn thiện tư tưởng giáo lý của tôn giáo Phật rồi mới toả lan ra khu vực.

Tại Việt Nam, cái nghĩa ảnh hưởng đó đã bị  “loãng” vào sự vận dụng tế nhị của tri thức giáo lý Phật do các vị Tổ trước cả Trúc Lâm đã định hình tính đạo góc cho giáo lý bản địa của mình, có nghĩa đạo Phật Trúc Lâm đã được thừa hưởng và tiếp tục tạo ra một nền tảng độc lập và lấy các giáo lý khác làm phương tiện vận hành mà chúng ta đã thấy ở gíao lý Phật vẫn là hình ảnh Phật, t61m gương Phật nhưng được Việt Nam hoá trong Hằng hà Phật, muôn muôn Phật như sự tích Phật Bà Quan Aâm ở Chùa Hương. Đã hiện thành Quán Thế Aâm ngày nay, ngàn mắt trong quan niệm nữ tính ( ở Aán Độ Ngài là nam Phật ) mà các nhà điêu khắc ở Việt Nam đã thể hiện đến độ hoàn mỹ ở Chùa Bút Pháp, Bắc Ninh, chùa Mễ Sở, Hà Nội, chùa Tam Sơn, Bắc Ninh ( riêng pho tượng Quan Aâm ngàn mắt ngàn tay ở chùa Tam Sơn đã bị bom Mỹ phá hoại năm 1970 ). Sự tích Tam Thế, thông qua ảnh hưởng cũng trở thành “Thế Hiển, Thế Lịch, Thế Vinh” là những nhân vật làm thiện trong cổ tích Việt Nam. Và chúng ta có thể khẳng định nếu thời nhà Lý ( Đạo Phật ) đã tạo ra một nền tảng văn hoá Thăng Long bởi công cuộc xây dựng Kinh thành và củng cố Phật giáo do sự xuất hiện của nhóm du học là Từ Đạo Hạnh, Khổng Minh Không và Dương Không Lộ còn cho thấy ngược lại cái điều ảnh hưởng là tính giao lưu đa văn hoá đạo Phật, cho nên tại Aán Độ cũng xuất hiện ngôi chùa Việt Nam thờ Từ Đạo Hạnh, tại Trung Quốc có ghi danh sư Không Lộ  đi sứ làm vua Tống ngộ đạo và đã thưởng Ngài nhiều kim loại đồng đế đưa về Việt Nam đúc tứ đại khí là chuông Qui Điền, Tháp Báo/////?, vạc Phổ Minh và tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm … chúng ta cũng cần khẳng định thờ nhà Trần, đạo Phật Trúc Lâm đã tạo ra một nền văn hoá “Dân đạo mang tính quốc thể”. Lấy Yên Tử làm gốc cho Tam Tổ tại trụ ( không xuất dương ) là Trần Nhân Tông ( Điều Ngự Giác Hoàn. 1258- 1308 ) Dồng Kiên Cương ( Pháp Loa 1284 – 1330 ) và Lý Đạo Tái ( Huyền Quang 1254 – 1334 ).

Như vậy Đạo Phật Trúc Lâm tuy đã hơn 700 năm tồn tại và không thể tránh khỏi sự hưng suy do thời cuộc biến đổi ( kinh nhà Phật vẫn nói “vật đổi sao dời”), đó là sự phải trải như vận nước trong chiến tranh, vận đạo trong các luồng tư tưởng  và chính kiến khác  nhau đã có từ cổ xưa ( thời Lê mạt có sự kiện Nho đạo bác Phật Đạo …), trong kinh Trúc Lâm cũng đã nói “Tan để hợp, hợp để tan” . nhưng Trúc Lâm vẫn tồn tại đến ngày nay chính bởi một nguyên  nhân đơn giản là “ Đạo Việt, Đức Việt và con người Việt đã khắc sâu trong lòng dân Việt” cho nên đến nửa cuối thế kỷ 20, đạo Phật Trúc Lâm đã toã về phía nam Việt Nam và tồn tại ngay trong chế độ cũ ( Nguỵ  quyền Sài Gòn ) chính  những tăng ni Phật tử miền Nam đã ủng hộ cách mạng,đã đấu tranh không khoan nhượng những bất công và phản chân lý xã hội của chính quyền Mỹ – Diệm. Tấm gương đấu tranh thời ấy đã hoá thành bó đuốc sống đầu tiên trên thế giới của Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự châm lửa vào mình tại đất Sài Gòn để kêu gọi các tăng ni Phật nử miền Nam xuống đường đấu tranh chống bọn nguỵ quyền áp bức nhân dân và tôn giáo năm (1964). Cũng năm này, các chư tăng đã quyên góp xây dựng một chùa Vĩnh Nghiêm ( mang hiệu tự chùa lớn Vĩnh Nghiêm ở tỉnh Bắc Giang miền Bắc: chùa vốn là nơi hoằng pháp lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm thời Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ). Chùa Vĩnh Nghiên Sài Gòn nó qui mô lớn nhất về kiến trúc trong các chùa có được ở miền Nam và hoằng pháp như một chốn tổ Trúc Lâm do hoà thượng Thích Thanh Kiểm trụ trì ( ngài vừa viên tịch cách nay vài tháng ). Đồng thời gian sau đó, Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt lại hiện diện dưới sự hoằng pháp của hoà thượng Thích Thanh Từ. Như vậy nhân dân miền Nam đã biết được Trúc Lâm Phật Việt là gì và nhiều đoàn phật tử đã hành hương ra Bắc thăm viếng Yên Tử kể từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất.

Cũng cần điểm qua sự ghi nhớ về Trúc Lâm đã tồn tại trong lòng dân Việt, đã “ xuất đạo Việt Nam” hiện diện tại đất Thái Lan sau cuộc khởi nghĩa Cần Vương thất bại, bà con Việt kiều lánh nạn sinh sống tại đây đã dựng chùa thờ Tam Tổ Phật Trúc Lâm, dựng đền thờ đức Thánh Trần Hưng Đạo cách nay gần 100 năm. Đặc biệt trong thế kỷ 20, các tăng ni Việt Nam đã đưa đạo Phật Việt sang khắp châu âu như các quốc gia Pháp, Anh, Mỹ, Nga… đều xuất hiện những ngôi chùa do người Việt trụ trì và hoằng pháp theo văn hoá Phật giáo Việt Nam và kéo theo nhiều đệ tử bản xứ đã từng có dịp trở về Tổ quốc và hơn một lần đã lên thăm viếng Yên Tử – xin hiểu Việt phật là sự hành đạo với các nghi lễ, kinh pháp, giọng tụng, phép trì giới… đều mang tính Việt Nam. Như vậy chúng ta nên xét đạo Phật tuy có xuất xứ ảnh hưởng đa ngoại quốc tính Việt nhưng tư tưởng Việt hoá đã làm nền tính tín ngưỡng và trở thành bản địa (bản sắc Thiền tông Việt Nam). Điều này cũng tỏ rõ ở bất cứ quốc gia nào có đại Phật là có sắc thái riêng của đạo Phật nước đó, với Việt nam rõ nhất kể từ khi đạo Phật trúc Lâm xuất hiện.

Xin ngược dòng thời gian có tình nền tảng của lịch sử truyền thừa trước đó 6 hệ Tổ (cơ bản là phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông sáng lập và đã có ý thức tự chủ, tự đạo), nhưng rõ nhất kể từ thời nhà Lý đã tạo mên một nền tảng quan trọng không chỉ cho nhà Trần thừa hưởng một Kinh đô Thăng Long đã bình ổ chính trị văn hoá và xã hội mà còn được hưởng các tuyến đề phòng luỹ trên nhiều tuyến sông do các công việc cải tạo thuỷ lợi và khơi thông các dòng sông để nhà Trần có được vị thế chiến thuật phá giặc và 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Mặt khác nhà Lý cũng hình thành các hệ thống nghiên cứu văn hoá, xã hội và chính trị… dưới dạng các kinh viện tại Kinh Đô, nhờ đó mà nhà Trần đã “rảnh tay” phần nào ổn định tổ chức xã hội và nhanh chóng phát triển Đạo Phật Trúc lâm, hơn nữa cả hai nhà Lý, Trần có cơ cấu chế độ “Quốc sư thần quyền và công quyền” tham gia chính trị nên đã có đóng góp vào sự hưng thịnh của đất nước cũng như văn hoá nước Vạn Xuân, sau đương thời Lý Thánh Tông đổi thành Đại Việt.

Chính những điều kiện có tính nền tảng này cho Đạo Phật Trúc lâm đã hình thành một nhận thức ngay từ cung đình đến bàn dân nước Việt đều biết đến Thiềng Tông là một thể Tĩnh tâm để tư duy về sự giải thoát đó, nó là một chính kiến tác động kỳ vỉ nhưng cũng có giới hạn nào đó. Đây có thể là cái chốt về nhận thức của một vị vua Trần Nhân Tông đã tự nguyện xuống áo hoàng bào để khoác áo cà sa (trên thế giới chưa từng có), rồi lấy hiệu danh Phật : Điền Ngự Giác Hoàng để làm nên “MỘT THIÊN VẬN PHẬT NƯỚC NAM” TRONG NGÔI Tổ đạo Trúc Lâm thứ Nhất và chính Ngài cũng là người nỗ lực nhập thế đến tận cùng để giáo dục dân trí và đạo lý làm người cho xã hội đương thời, điều này rất dễ tin vì ông và cha của Điều Ngự Giác Hoàng cũng tìm pháp nguyện tu ddaok Phật, từng có trước tác nổi tiếng như “ôKhoảưu tục” nói rất rõ về quan điểm nhân sinh Tâm và Đạo mà sau này ở thời chúng ta chỉ cần nghe một câu thơ của Điều Ngự thôi đã lập tức hiểu ngay Đạo Phật không ảo mà nó thiết thực đến mức “Cư trần lạc đạo”, nghĩa là Đạo Phật ngày đó vẫn thể hiện trách nhiệm cao cả và trí tuệ phát sáng của các bậc chính nhân với các công ích xã hội. Với Thiền phái Trúc Lâm, Điều Ngự Giác Hoàng – Trần Nhân Tông đã là tấm gương sáng cả hai mặt để hoàn thiện một nhân cách của một vị Vua hoà tâm với một vị Sư  trong một con người vẫn cống hiến do dân, vì dân gần như nhau.

Xin trở lại đôi chút về các vấn đề ảnh hưởng đạo Phật, chính nó đã lan toả đến Việt Nam nhất vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên, thời Hắn Linh đế tạ thế. Trung Quốc đại loạn, nhiều độc giả Trung Quốc đã tị nạn sang Giai Chỉ, trong đó có Mau Dung (người Quảng tây) đem giáo lý Phật truyền vào Bắc Bộ. Căn cứ vào sự ghi chép của sách Trung Quốc, thì đầu thế kỷ thứ III, Khang Tăn Hội là sư của nước Khang Cư, ngày bé từng theo cha mẹ từ nước Thiên trúc di cư tới Giao Chỉ, có nghĩa ông đã thụ giới đạo Phật ở Việt Nam. Khoảng những năm 544 đến 601, thời kỳ Việt Nam dựng được nhà nước Vạn Xuân độc lập đầu tiên, nhưng đến năm 580, một cao tăng Aán Độ là Tì Ni Đa Lưu Chi (Diệt Hi, mất năm 594) đã xây dựng môn phái Diệt Hi Thiền Tông ở phía Bắc nước Vạn Xuân. Đến năm 820, nhà sư Vô Ngôn (ông sư không nói, chỉ dùng cử chỉ, mất năm 826) đã từ Trung Quốc tới chùa Kiến Sơ (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm Thông bắt đầu đâm được những nhánh rễ vào các địa danh và con người miền bắc. Cũng cần nói từ thế kỷ X đến XV là thời kỳ phát triển của Phật Giáo Việt Nam, nó bắt đầu khởi phát từ Kinh đô Hoa Lư và bừng lên ở cuộc đời đô Hoa Lư ra Thăng Long đã bắt buộc triều đình nhà Lý phải làm cuộc cách mạng lớn : kiến tạo Kinh đô, phòng thủ bờ cõi và củng cố thủy lợi cho nông cuộcnghiệp phát triển, trong đó việc trùng tu và xây dựng các di tích phục vụ cho tín ngưỡng Phật và cải tạo thuỷ lợi toàn cục các dòng sông cũng là một trong những việc được ưu tiên hàng đầu, lẽ tất nhiên nhà vua đã biết dựa vào sức dân và các tăng ni Phật tử. Tính từ 1010 đến 1130, nhà Lý đã xây dựng được 950 ngôi chùa và 84.000 ngôi bảo tháp với sức lao động của trên 10.000 tăng tử, hàng chục vạn dân và thợ lành nghề tham dự. Trong sách “Việc giám Thông khảo Tổng luận” có viết “Tăng ni dân gian bán, Phật tự thiên hạ mãn” (Tăng ni nửa dân gian, chùa Phật tràn thiên hạ).

Đến đầu thời nhà Trần, đạo Phật Việt Nam đã phát triển mạnh bằng con đường ngẫu nhiên của nó, việc nhìn xa, trông rộng trong tầm kiến tạo các di tích Thăng Long và tư tưởng văn hoá Phật giáo đã được nhà Lý chu toàn. Đây là thời kỳ các tăng tử và cư sĩ nhà Trần bắt đầu tìm cách h7ớng đến thâm sơn cùng cốc, rõ nhất là sự dẫn lộ của Thiền phái Thảo Đường mà ngôi sao sáng nhất vẫn là cư sĩ Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung 1230 – 1291), con trai Trần Liễu, anh ruột Trần Hưng Đạo phái Thảo Đường không nhập vào chốn đô thị kẻ chợ mà chọn điểm cát cứ Phật môn tại Yên Tử, xin hiểu gần một ngàn năm trước chúng ta không thể nói các cuộc du ngoạn vùng núi Yên Tử dễ như ngày nay đi lại trong một sớm, một chiều, giao thông lúc đó hoàn toàn phụ thuộc đường thủy và phải đi, trongvề hàng tháng, do vậy chúng ta thấy được một qui hoạch kiến tạo các di tích và cảnh Phật của phái Trúc Lâm hoàn toàn nằm theo hình đồ và thế địa sơn thuỷ giao lưu giữa đồng bằng sông Hồng, đồng bằng Bắc bộ và miền núi đông Bắc, chủ yếu là các thềm núi bán sơn địa.

Sự lan toả của các di tích dựa trên lưu thông đường thuỷ từ Thăng Long đến khắp các vùng đồng bằng Bắc bộ và miền núi phía đông bắc được xây dựng trước các bến, các triều sông và rõ nét nhất là các di tích Lý. Trần hầu như quần tụ trên các nhánh sông Hồng (Nhi Hà), sông Đuống (Thiên Đức), sông cầu (Nguyệt Đức), sông Thương (Nhật Đức), sông Lục Nam (Đào Hoa) và hội tụ nhau ở sông Lục Đẩu (sáu con sông gặp nhau từ vùng Phà Lại  đến Hải Phòng). Do vậy tại vùng sông Lục Đẩu có chùa Vĩnh Nghiêm làm điểm tụ hội cho chúng tăng từ các nguồn sông cái, sông con về làm Phật sự và cũng chỉ có triều đình nhà Trần mới tổ chức Hội nghị Bình Than trên sông Lục Đầu để làm cuộc hoà hữu thân tộc cùng đoàn kết đánh giặc, để nhân dân dễ đến, dễ góp ý cho triều đình những phát kiến chống giặc Nguyên Mông. Do vậy mà thời hoàng kim đạo Phật Trúc lâm Yên Tử không những phát triển cao hơn thời nhà Lý một bậc mà còn tỏ hơn về các luận thuyết giáo lý và phương pháp nhập thế rất có trật tự  và thống nhất. Cho nên việc kiên tạo yên Tử là kiến tạo một “Đỉnh tâm linh” trong tư tưởng văn hoá dân tộc Đại Việt và ý thức tôn Phật Việt Nam đã xuất hiện dưới hình thức “Di tích và văn hoá mang đặc tính Thiền tông”. Chúng ta đều hiểu địa danh Yên Tử được Trần Nhân Tông kế thừa và chính thức đặt hiệu Trúc Lâm kể từ khi ông xuống áo bào, còn trước ông, các vua Trần đã chọn vùng núi Hoa Lư, Ninh Bình để tôn Phật và lập lãnh địa giáo phái như ta đã thấy ở quần thể di tích đến Thái Vi tỉnh Ninh Bình.

Kể từ khi Trúc Lâm xuất hiện, giáo phái Thiền Tông Việt Nam đã được khẳng định bằng bề thế xã hội lúc đó với sự hiện diện của hơn 15.000 tăng ni tử cùng nhân dân hưng công chế tác đến hàng ngàn pho tượng, thiết kế , xây dựng hơn 800 ngôi chùa, trong đó có 5 địa chỉ được coi là đại chủng viện, đại chủng tự hoằng pháp là chùa Quán Sử (Hà Nội), chùa Báo Ân  (Gia Lâm), chùa Đúc La, tức Vĩnh Nghiêm tự (Bắc Giang), chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) và Yên Tử là danh thắng duy nhất của di tích tôn Phật trong cảnh quan thâm u cùng cốc để “Nâng cao sở trường Thiền Tông”. Như vậy các đại chủng viện này đều thống nhất truyền thừa môn pháp Thiền tông và chính Thiền Tông đã đáp ứng các phép tu bậc cao. Xin ví dụ phép Thiền hoa của Tam tổ Huyền Quang (Lý Đạo Tái, trước đó đã từng đỗ Trạng nguyên) được hình thành trong các bài kệ tục giới nói về trăng hoa với nghĩa bóng của nó – sau này chính người Nhật đã có môn Hoa đạo dùng cho Thiền năng chữa bệnh (ngồi thuyền bên hoa để thưởng thức tỉnh hương của của từng thời khắc dẫn vào đang điền và chuyển đi các đường kinh lạc trong cơ thể). Chính tôi đã có dịp tiếp xúc với Hoà Thượng Thích Thanh Kiểm, một tiến sĩ có hai bằng, một Phật học, một văn học tại Nhật Bản (Ngài tốt nghiệp năm 1962), đã tặng tôi cuốn sách “Thiền tông hoa đạo” của Ngài để khẳng định phép Hoa đạo của Tam tổ Huyền Quang đã được người Nhật phát huy một cách hiệu quả. Gặp Hoà Thượng Thích Thanh Tử, Ngài đã nói Thiền tông luôn gần thế tục để cảm hoá thế tục, cho nên : Hoa, trà, ăn , uống, ngủ nghỉ, làm và chơi…của Thiền tông chỉ khác đời là gắn nó vào chữ Đạo để điều chế đến tinh tuý các hành vi, sinh hoạt và suy nghĩ thưởng thức mà thôi.

Như vậy chúng ta không chỉ quan tâm đến Trúc Lâm về mặt di tích, mà một điều cũng đáng nói là môi trường của rừng núi Yên Tử cũng cần được giải mã về hoa, cảnh, cây thuốc, hệ thống địa tầng môi sinh, nguồn nước, hướng gió, thổ thạch và cầm thú…với một quan điểm bảo tồn là ý thức lớn nhất, trước hết cần được phổ cập xã hội, cần được thống kê những thứ đã khuất dạng, những thứ còn tồn tại đến ngày nay. Có nghĩa những hàng tùng, những cây dại đã tồn tại với tuổi gần ngàn năm và tất nhiên các thiền sư thăng núi không chỉ để lánh đời, để niệm thiền cá nhân, chính tổ chức Trúc Lâm đã biểu hiện sự nhập thế tận cùng, cho nên chúng ta thấy họ canh tác rừng thuốc, khai thác lâm sản để cứu đời, để dùng trong những ứng dụng lợi ích cho Thiền tông.

Điểm sơ qua các tổ chức về mặt hoằng pháp của Trúc Lâm Thiền Tông với 5 địa chỉ pháp viện lớn nhất như đã nói ở trên (ngày nay đã mất dạng mất hai kiến trúc, đó là chùa Báo Aân và chùa Quynh Lâm, và nguy cơ tổng khu di tích Yên Tử cũng sắp trở thành phế tích nếu không được quan tâm hơn nữa). Các đặc điểm của các đại di tích mang tính chủng viện hoằng pháp đều có tính thống nhất và phân bổ các chức trách khác nhau (điều hành khối Phật giáo và đạo tạo tăng ni thời xưa) thì Yên Tử do mang tính đặc thù về mặt địa lý nên được khẳng định là một dài quan sát phòng thủ quốc gia khi Lý Thường Kiệt hoạch định các phòng tuyến trên sông để chống quân Tống, sau đó mới tới việc kiên tạo một cảnh sắc gồm các di tích và danh lam cho mục đích tôn giáo. Theo sách “Đất nước ta” của Hoàng Đạo Thuý thì địa lý núi Yên Tử là cả chiếc đầu rồng nghếch ra biển đông, các cánh vây và thân rồng đã uống mình về phía tây bắc tạo ra dãy núi Hoàng Liên Sơn trùng điệp rồi ẩn đi và sau đó lại hiện khúc ở dãy Trường Sơn, kéo dài theo đất nước. Như vậy Yên Tử hẳn là một pháo đài tổ quốc, là chỗ đầu rồng ngóc lên hướng thiện, là điểm cao và “cận nhất giữa trời và đất” để cái lý, cái lẽ của Trúc Lâm có được một ngôi chùa Đồng cho người đời sau có chỗ vọng tâm, kinh nghiệm giữa trời và đất.

Xuống phía đồng bằng Bắc bộ, chúng ta hãy hình dung các tuyến sông trọng lưu thông xưa từ Thăng Long (Thăng Long luôn là điểm xuất phát của mọi chủ trương và kiến tạo quần thể di tích miền Bắc), ra bến sông Hồng, dẽ ra sông Đuống (Thiên Đức cũ), xuôi đến cửa sông Lục Đầu, đi sông Kinh Thầy hoặc sông Sặt (Hải Dương), sông Bạch Đằng, sông Khoể (Hải Phòng) đều có thể tiếp cận Yên Tử do các luồng lạch nhỏ tự nhiên dẫn vào (do cấu trúc địa tầng vùng núi Yên Tử có chân choãi rộng nên các hướng dót nước thượng nguồn đều tạo ra nhiều suối lớn nhỏ đổ về sông) Đây là đường giao thông chủ yếu để chuyển vật liệu và di sản lên các cụm chùa trên núi Yên Tử và tất nhiên với nhà chiến lược quân sự thiên tài, Giác Hoàng không thể không giao cho các đệ tử trụ trì núi kiêm thêm nhiệm vụ trinh sát các biến động thiên nhiên về đề phòng giặc ngoại xâm nhòm ngó.

Với các qui hoạch của 5 đại bản danh di tích lớn của Trúc Lâm, ta kể Yên Tử là một.

Điểm đại di tích thứ hai là chùa Báo Aân. Chùa có qui mô là một Thiền viện rộng lớn, nguy nga đành làm nơi kiết hạ (học đường), đồ thư tàng các (chứa sách và hiện vật quí), ở đó có Ban trực phận sự quốc gia, chùa toạ lạc ngay trên dòng sông Thiên Đức (cũ, nay ở đầu con ngòi nối liên xã, huyện từ Gia Lâm về Hưng Lâm), chùa Báo Aân còn gọi là Sùng Phúc Tự, thuộc thôn Quang Trung, xã Dương Quang, Gia Lâm, Ha Nội (cách trung tâm thành phố khoảng 17 cây số). Chùa có lịch sử đặc biệt của nó khi Điều Ngự Giác Hoàng về giảng pháp ở đây, chính ngày đã thụ giới cho nhị Tổ Pháp Loa (nhập đạo), rồi cũng chính ngày cho tổ chức làm lễ truyền thừa chức Nhị tổ cho sư pháp Loa cũng ở chùa này vào đầu năm 1308, trước khi Ngài lên Yên Tử viên tịch vài tháng. Theo sách cổ nhà Phật thì chùa Báo Aân cho pháp Loa khởi công xây dựng suốt từ 1300 đến 1308 khánh thành với 12 toà giảng, 3 thư viện, 4 vườn tháp và các cung tiền, trung, hậu dành cho Tam Bảo, cho chư Tổ và cho người trại trụ, vành ngoài có cổng Tam quan, có quán Vua Reo ngay bến sông Thiên Đức và biên chế dù cả ban bộ, công thủ, chấp sự, và quản Thiền đường…

Ngôi viện thủ thứ ba là chùa Đức La, có tên Vĩnh Nghiêm tự, nay thuộc xã Tứ Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa có qui mô lớn, là tổng trung tâm chính, thường được Điều Ngự cho tổ chức các cuộc trì giới, hoằng pháp đặc biệt để thụ phong chức vụ cho chư tăng cả nước, đồng thời chùa cũng là nơi lưu và xuất bản các tạng kinh Việt Phật (các tạng bản in kinh nay vẫn còn, đặc biệt còn có các tạng bản kinh về thuốc đông nam dược rất quí của dòng Thiền Trúc Lâm).

Ngôi viện thư thứ tư là chùa Quỳnh Lâm (xã Hà Lôi, huyện Đông Triều) cũng được các Tổ Trúc Lâm lập điểm hoằng pháp điều hành các hệ thống chùa ven biền, nó còn mang yếu tố rất quan trọng là điểm Thiền lập, điểm bào chế thuốc, dưỡng lão và điều trị bệnh cho các tăng tử với nguồn thuốc vô kể được chuyển từ núi Yên Tử xuống giao cho các y tăng sử dụng cứu người. Chùa còn có qui mô rộng lớn hàng chục mẫu, đặc biệt có pho tượng đồng Di Lặc khổng lồ nặng trên 40 tấn (là một trong bốn 4 đại khí Việt Nam), tượng đã bị quân Minh xâm lược nước ta phá ra đúc đạn thần cơ cùng các đại khí đã nói ở trên. Thời Lê chùa được dựng lại, rất tiếc đến thời vua Thiệu Trị, chùa bị đốt trụi.

Viện thủ thứ năm là chùa Quán Sứ Hà Nội, chùa ban đầu chỉ mang tên Quán tự của thời Trần và được dùng làm nơi tụ hội dành cho chúng tăng từ khắp nơi về dự việc nước, sau triều Lê dùng làm nơi nghỉ của các sứ thần lân bang đến ngại giao tại Việt Nam nên có thêm chữ Sứ – Quán Sứ – chùa cũ không còn hiện trạng hứng qui trước đó rộng và đẹp hơn nhiều hiện trạng ngày nay.

Với qui hoạch về sự hoằn pháp giáo lý Phật Trúc Lâm, chúng ta hiểu quan niệm của Điều Ngự Giác Hoàng là “Cư trần lạc đạo” nên ngài không chọn Yên Tử làm ngôi Viện thủ thứ nhất, tức là không coi nơi này là chốn dung thân thụ ẩn mà ngược lại chỉ làm nơi dung đạo và hành pháp Thiền tông, chủ yếu dành cho các cuộc tham Thiều theo khoá, theo vấn và là nơi viên tịch của Ngài (khi mất). Và chính Ngài đã dãng kết một phép Thiền tông đắc quả mà chúng ta không thể phủ nhận : Đó là văn hoá Trúc Lâm đã nhuyễn luyện Thiền tông Việt Nam bằng một động cơ vận hành bằng chính nhân cách Trần Nhân Tông.

Việc đánh giá chung về di sản văn hoá do Trúc Lâm kiến tạo và xây dựng để làm phần kết cho bản tham luận tóm tắt này, chúng tôi thấy rằng các nhà nghiên cứu khoa học, các tổ chức chức năng và người có lòng công đức cần làm và xem cách hoặc định thống nhất trên cơ sở phát huy thế mạnh của di sản văn hoá Trúc Lâm Thiền tông một cách khoa học để nắm bắc và hiểu rõ thêm và làm tốt hệ thống di sản văn hoá do Trúc Lâm để lại. Khuyến nghị như sau :

-         Sau hơn 700 năm, chúng ta có thể nói Trúc Lâm Đạo Tổ là một tổ chức lớn nhất, hoàn thiện nhất, trước hết bằng tư tưởng hoằng pháp đạo lý xã hội, sau mới duy trì tư tưởng độc lập tín ngưỡng như một Việt Phật tải đạo. Điều này cần đưa vào các tiêu chí giáo dục dân trí, thâm chí kể cả tăng tử hiểu được bản sắc văn hoá Trúc Lâm toàn diện và thống nhất.

-         Trữ lượng hữu thể kể cả vô thể Trúc Lâm cần được thống kê một cách khoa học và trở thành các đề mục dẫn cho người dương đại biểu được hệ thống lịch sử và văn hoá Trúc Lâm không chỉ bao trùm Bắc, Nam và có ảnh hưởng khá rộng đối với quốc tế.

-         Cần làm rõ và thống nhất sự trùng tu, qui hoạch theo nguyên bản di tích (không nên để tình trạng trên đỉnh núi có hai ngôi chùa đồng cũ và mới – thực ra một là bê tông, một là đống gò không mang tính nguyên bản như chùa cũ được đúc trước kia (năm 1997 khi có dịp lên đỉnh Yên Tử, chúng tôi vẫn thấy nhiều mảnh đồng đúc được xếp lại thành đống tại vị trí này).

-         Cần thống nhất phương pháp quản lý, chủ yếu bảo vệ an toàn cho cảnh quan di tích, cho người hành hương (rất dễ bị nạn) và các điều kiện phát triển di tích phù hợp thời đại (không tách khỏi nguyên bản).

-         Cần đưa ra các phương thức tối ưu, phù hợp lòng dân để khai thác nguồn vốn, nguồn kinh phí trùng tu, bảo dưỡng di tích, đặc biệt là chiếm được lòng tin trong nhân dân sẽ đáp ứng một nguồn vốn công đức vô tận.

-         Cần đặt ra các bao thầu kiến tạo di tích cho những đề án khoa học chung, tránh các phát triển bộc phát, tuỳ tiện gây ảnh hưởng không tốt cho di tích, cho người hành hương (như Chùa Hương đã trả giá ngay trong năm do tổ chức không tốt, mật độ khách hành hương giảm hẳn 50%).

-         Cần nghiên cứu xây dựng hệ thống trục vận hành dòng dọc để tạo thuận tiện đi lại an toàn cho người hành hương (tạo khả năng thu hút mật độ khách). Vì di tích được tồn tại từ xưa đến nay ở nhiều nước đều do nguồn thu có từ người hành hương cung cấp, thỉnh thoảng nhà nước mới cấp theo giá trị bảo dưỡng hạn hẹp (dù là đất nước giàu có).

Trên đây là 7 khuyến nghị để các nhà chức năng cần làm tốt một cách khoa học và phù hợp thời đại. Hy vọng tổng khu di tích và danh thắng Yên Tử sẽ ngày càng hoàn thiện với qui mô trở lại ngày xưa bằng phương tiện thời nay.

Hà Nội, ngày 01 tháng 4 năm 2001