|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
THI CA |
|
QUA TRƯỜNG HỢP |
|
TRẦN NHÂN TÔNG |
|
Nhà thơ Trúc Thông |
|
|
|
Vì
những gánh vác lớn triều đình và xã tắc đặt lên vai ông,
vì niềm đam mê lớn Phật học đã ở trong máu ông từ
tuổi thơ ấu, đặc biệt từ khi ông truyền ngôi cho con ở
tuổi 36; nhẹ nhàng lên Yên Tử lúc 41 tuổi để trở thành
vị Tổ thứ nhất của Thiền Phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông
đã không thể dồn hết mình cho thơ. Nhưng con người ấy không
thể không làm thơ và chỉ cần ba danh một thi gia có hạng.
Chúng ta cùng chiêm ngẫm vài phẩm chất thi ca cao quý ở
Trần Nhân Tông. MỘT
TÂM HỒN LỚN, ĐẸP VÀ SÂU THẲM Đây
là bản dịch bài Động Thiên hồ thượng. Trên
hồ Động Thiên Hoa
cỏ lém vẻ xuân tương Thượng
đến thương hiu quạnh Thỉnh
thoảng điểm một tiếng chuông giữa tầng biếc. Puskin,
nhà thơ vĩ đại Nga có nói đại ý: một kẻ tiểu nhân cũng
tinh tế. Cho nên tinh tế không phải phẩm hạnh đầu tiên và
duy nhất của cảm hứng nghệ thuật. Cảm hứng nghệ thuật:
“Thượng đế thương hiu quạnh /Thỉnh thoảng điểm một
tiếng chuông giữa trời biếc” thuộc về một trái tim nhân
ái bao la, một tình thương lớn đã đưa tứ thơ xuyên thấu
vũ trụ. Tiếng chuông chùa không cụ thể nữa, đó là một
ban tặng, một đỡ nâng vô hình vô cảnh. Ta lại dọc hai câu
mở đầu của bài từ tuyệt “Cây mai” (Cũng bản dịch nghĩa). Gan
dạ sắt đá vượt lên tuyết buổi sáng Quần
lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông Hình
ảnh thật lạ lùng. Cây mai thoắt được hình dung hoá thành
một đấng chính nhân quân tử độc nhất vô nhị, giản dị
một cách cao sang với quần lụa mộc, khăn lụa trắng, con người
tượng trưng ấy đứng giữa thế gian vừa thực vừa mơ. Cái
nền vữa vàng cho hình ảnh vừa thực vừa siêu thực kia, chính
là cái nền của một nhân cách “Gan dạ sắt đá vượt lên”
mọi giá buốt, mọi khắc nghiệt của buổi sáng sớm- tượng
trưng cho tất cả gian truân thử thách cuộc đời. Một
tâm hồn có đanh thép của thiên lương, có vô tận dịu dàng
của tình thương và lại càng thẳm sâu trong giải thoát: Trong
khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi Dưới
bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay Khách
đến chơi không hỏi việc đời. Cùng
đứng tựa tan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời. (Cảnh
Xuân – dịch nghĩa) MỘT
TÀI NĂNG NGHỆ THUẬT NGÔN NGỮ ĐẦY LÔI CUỐN Chỗ
bất cập của người thưởng thức ở đây là không đọc
được nguyên văn Hán tự, đành bằng lòng với những văn
bản dịch nghĩa. Nhưng những
tài thơ lớn thường chiến thắng cả bên ngoài biên giới
nguyên bản văn tử, một chiến thắng ở thế “chẻ tre”.
Và với linh giác đặc biệt của thi ca tập tụ nơi người tác
giả phát những vòng từ trường cực mạnh, cực xa (cả
trong không gian lẫn thời gian), người đọc cách người thơ
đã tới bảy thế kỷ, mà vẫn cứ vừa giật bắn mình vừa
tỉ mỉ tiếp nhận. Sao
lại không sung sướng tiếp nhận một cảnh đẹp có thực
chỉ được sống duy nhất cái “đêm mười một tháng Hai”
ấy (đầu đề rất cụ thể của bài thơ): …
Trời trong như nước, trăng sáng như ban ngày Bóng
hoa tràn ngập cửa sổ, giấc mộng đêm xuân triền miên. Độ
ngột sao, trăng mọc, bất thình lình cái đẹp làm ta ngây
ngất chính nhờ ngòi bút nghệ thuật Trần Nhân Tông: …
Tỉnh giấc không biết tiếng chày nện vải ở nơi nào Trên
chùm hoa quế trăng vừa mọc (Trăng) Lại
trăng nữa, đẹp một cách vừa thương quen, vừa khác lạ
ngay trên quê hương “phủ Thiên Trường” tức là đất Sơn
Nam hạ thân yêu của chúng ta. …
Quán bên sông, mới canh đầu trăng đã lên cầu. Rõ
ràng có phối trí của một ngòi bút thơ cựu kỳ tài hoa và
điêu luyện, nhưng cứ tự nhiên, cứ lặng lẽ hiện lên theo
vận động bí ẩn của tạo vật. Hình
như bao nhiêu thơ hay đã dồn cả vào tứ tuyệt này: Chiếc
cầu chạm vẽ đảo bóng vắt ngang dòng suối Một
vệt nắng chiều rực sáng bên ngoài ngấn nước Nghìn
núi lặng tờ, lá đỏ rơi Mây
ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng Hai
câu sau có tuyệt với
hội hoa, nhưng không phải chỉ ngắm mà phải cảm được nghìn
núi lặng tờ, và đặc biệt mây ướt
giăng như mộng, ghê gớm hơn nữa là thả vào một
tiếng chuông xa vẳng, thì chỉ có ngôn ngữ thi ca mới có
được. Còn
chót vót xênh xang nữa tài thơ Trần Nhân Tông, nếu ta chiếu
từ nhiều góc nhìn, đặc sắc từ góc nhìn mà người đang
phân tích chưa có dịp nhập sâu. Không kéo dài, nhưng tiếc
nếu chưa trích dẫn tứ thơ trác việt này, được bẻ
ngoặc bất ngờ từ câu thơ của Lục Khải tặng Phạm Việt
(Trung Hoa): Một
cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân Tỉnh
dậy không thể đem tặng anh được Vẫn
là cành hoa mai chứ không phải hoa đào đa tình, hai câu kết
của khúc thứ hai trong bài thất ngôn bát cú hai khúc “hoa
mai sớm” (Tảo Mai). Kết
thúc mấy cảm quan còn sơ giản về thơ Trần Nhân Tôn với
hai câu thơ đột ngột sáng tạo về cành mai trong giấc mộng,
vâng cành mai, chứ không phải cành đào hay cành hồng, dù đào
hồng cũng tốt cũng đẹp. Tôi muốn trở lại luận điểm
mỹ học tinh xác của Puskin. Thơ hãy đẹp, hãy tài năng, hãy
siêu tinh tế, nhưng hãy là thơ có thế, có tầm. Tầm thế không
thể áp nhập từ bên ngoài bài thơ, mà từ trong sâu thẳm bài
thơ, từ tâm hồn, từ cốt cách cao sang của một tài năng ngôn
ngữ dày dặn. |