HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ

CÂY NGÀN YÊN TỬ

MỘT TÀI SẢN THIÊNG LIÊNG CỦA QUỐC GIA

Trung Thị Kim Dung

Thư ký toà soạn Báo Phụ nữ Thủ đô

        Vừa qua (tháng 5/2001), Thượng toạ Huyền Diệu – Người sáng lập ra hai ngôi “Việt Nam Thập quốc tự” tại Lâm Tỳ Ny, nơi Phật đản sinh, Bồ Đề đạo tràng nơi Phật thành đạo ở Ấn Độ, Nê Pan: đã mang cây Bồ đề nhỏ được gieo ươm từ xứ sở mà Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni ngồi Thiền định về trồng ở Thánh địa thiêng liêng của Việt Nam.

Cũng như bao người khác trên hành trình “Đăng Sơn” Yên Tử Thượng toạ Huyền Diệu rất tâm đắc với câu đối treo ở chùa Giải oan bởi nó đã khái quát được vẻ đẹp của chốn thiền môn siêu đẳng này.

“Thiên tải hoạ đồ sơ trung sắc

Từ thời tụng niệm điều trung thành”

(Ngàn đời vẽ sắc màu tranh lên núi rừng

Bốn mùa tụng niệm trong tiếng chim ca)

Hẳn yêu thiên nhiên khoáng đạt, có huyệt mạch hội tụ linh khí non sống mà Đức hoàng đế Trần Nhân Tông đã chọn Yên Tử để xây dựng nơi đây thành một trung tâm văn hoá, kinh đô Phật giáo của Đại Việt.

Hơn 700 năm qua, Yên Tử ngọn núi nằm trên độ cao 1068m thuộc vòng cung Đông Triều (Quảng Ninh) gắn liền với tên tuổi sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông – người anh hùng vĩ đại của dân tộc sau hai lần lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng oanh liệt quân Mông – Nguyên (1285 và 1287) đã từ bỏ ngai vàng về miền hoang dã tu luyện rồi sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm trên cơ sở hợp nhất 3 dòng Thiền xuất hiện lâu đời ở Đại Việt: Ti –ni –đa – lưu – chi (vinirutaci). Vô Ngôn Thông, Thảo Đường.

Điều ngự đầu đà Trần Nhân Tông và các bậc cao tăng trí giả Huyền Quang, Pháp Loa… ngay khi khởi xướng xây dựng Thiền Viện, chùa tháp theo một hệ thống kiến trúc độc đáo: từ chân núi lên đỉnh núi, tương ứng với các cõi trần gian, lưng trời, cung trời và ngoài vũ trụ … họ vẫn không quên việc trồng cây gây rừng để tô điểm cảnh quan các công trình và môi trường sinh thái.

Đương thời Thiền sư Huyền Quang – một trong Tam tổ của thiền phái Trúc Lâm đã ca ngợi cảnh trí được qui hoạch một cách qui mô, tươi đẹp của danh thắng Yên Tử lúc bấy giờ:

“ Ngàn cây phơi cánh phượng

Vườn thượng uyển rặng tốt rờn rờn”

“… Cảnh tốt hoà lành đồ tự vẽ tranh

Chỉn cây trời thiêng mở khéo

Nhàn chi vua Bụt tu hành

Hồ sen trương tán lục

Suối trúc phím dàn tranh

Ngự sử mai hai hàng chầu rắp

Trượng phu tùng mấy chặng phò quanh

Phi thuý quây hai hàng loan phượng

Tử vi bầy liệt vị công khanh

Chim ốc bạn cắn hoan nâng cúng

Vượn bồng con cời cửa nghe kinh”

(Trích “Vịnh hoa yên tự phú”)

Ngang dọc những con đường nối hệ thống chùa chiền, am thất … Vua Trần Nhân Tông cho trồng tùng lấy bóng mát và cũng là tỏ rõ cốt  cách “quân tử” Á Đông. Đường leo núi Yên Tử hiểm trở, dốc dựng ngược vách đá cheo leo, chân người đi trước chạm tóc người đi sau, du khách phải bám rễ trồi trên đất của cây rừng mới lên cao được. Cây tùng Yên Tử có 3 loại: thuỷ tùng (gỗ trắng), thanh tùng (gỗ xanh), xích tùng (gỗ đỏ). Xích tùng là loại cực kỳ quí hiếm, chỉ còn tồn tại ở nước ta , vân nó như hoa mẫu đơn và đường kính thân cây khá lớn. Hiện nay ở Yên Tử còn 274 cây tùng có thọ tuổi 7 thế kỷ. Chúng giống những đài tháp khổng lồ ngạo nghễ không gian. Những cây tùng Yên Tử vừa là “nhân chứng lịch sử” vừa là biểu tượng về khí phách bất tử can trường trước mọi hoàn cảnh khắc nghiệt. Thăm Yên Tử, khách thập phương đều cung kính suy tôn các cây tùng cổ thụ là “vệ sĩ” Đông Á oai hùng canh giữ sơn địa thiêng liêng. Người ta kể: Trong một chuyến hành hương Yên Tử, võ sĩ Bùi Long Thành đã hướng dẫn môn sinh tiếp nhận nguồn năng lượng sinh học từ các “lão tùng”. Những môn sinh tụ khí đã được nạp “trường điện” mạnh mẽ của “lão tùng” khoảng nửa giờ đồng hồ. Sau khi thụ khí “lão tùng” tất cả đều thấy thân thể nhẹ nhàng khoẻ khoắn gấp bội. Thái thụ khí (thụ khí công) không phải là phát kiến mới, thực ra nó từng được ghi chép trong các sách khí công năng thâm diệu của các thiền sư đắc đạo. Vậy “lão tùng” Yên Tử có thể coi là một dạng như “Cội Bồ Đề” cho những người say mê Thiền định nhằm dưỡng sinh chữa trị bệnh tật.

Nếu ở chùa Hoa Yên lên một đoạn du kh1ch ngợp trong không khí tươi mát của những hàng tùng cổ thụ mà trong “Dư địa chí” danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi đã liệt hạng là “sản vật quí hiếm”  của Nhức nhà thì ở khu vực chùa Bảo Sái ta càng thấu hiểu tứ thơ của thiền sư Huyền Quang có liên quan đến cây trúc, một đặc sản lâm nghiệp nổi tiếng của Yên Tử:

“Trúc lâm đa túc điểu

Quá bán bạn nhàn tăng”

Dịch: Rừng trúc nhiều chim ngủ

Quá nửa là bạn của nhà sư.

Chẳng phải ngẫu nhiên Trần Nhân Tông đặt tên cho Thiền phái mang sắc thái Đại Việt là Trúc Lâm Yên Tử và hậu thế tôn vịnh ba vị sáng lập là Trúc Lâm Tam Tổ.

Trúc có nhiều loại, Trúc hoá rồng mày vàng đậm, đốt có chỗ thưa, chỗ mau, gốc trồi lên mặt đất uốn cong lên với bộ rễ dày, xoăn tựa đầu rồng. Mùa xuân măng trúc mọc tua tủa trong rừng, bên các lối đi.

Rừng Yên Tử được x61p vào loại rừng nguyên thuỷ. Hơn nghìn năm trước công nguyên đạo sĩ An Kỳ Sinh  đã tìm đến đây hái thuốc luyện kim  đan trường sinh cải lão hoàn đồng. Thời Trên vua Trần Nhân Tông đã lập xưởng bào chế (am dược). Các loại thảo dược Yên Tử được thu lượm về làm thành viên Thảo Ngọc sương để chữa bệnh cho dân khi đại dịch về thời khí la6yy lan. Đến Yên Tử ta luôn có cảm giác đi giữa hồn hoa bóng lá ngày xuân, không khí thơm tho, thanh khiết lạ thường. Mỗi một loại cây đều có một huyền thoại lưu truyền. Xưa, nho sĩ Ngô Thì Nhậm (thời Lê – Mạc) về lễ chùa giải oan chợt thấy hình ảnh vua Trần Nhân Tong ẩn hiện ở cây sung trước cửa chùa thoát chốc Đức Giác Hoàng hoá thân thành vô số hoa sung. Một đàn chim xanh ở đâu bay tới ngậm hoa vụt biến mất. Lát sau, chúng lại bay lượm, lông chiêm bám đầy hoa sung và nhập hoá thành hoa sung, Ngô Thì Nhậm liền “giác ngộc” và đọc thơ rằng:

Điểu thân phi điểu

Hoa hồ phi hoa

Hoành chỉ thiên nha

Ngũ nại ngũ hà

Dịch: Thân chim chẳng phải là chim

Hồn hoa chẳng phải hoa

Đứng đi là bởi nó

Nào có làm được gì.

Những cây sung ở chùa Giải oan và bên ngách chùa Hoa yên hàng mấy thế kỷ nay vẫn chiu chít chùm xanh, chùm đỏ, thường xuyên cung cấp cho nhà chùa món sung ướp muối trong bữa ăn chay. Đồng thời cũng gợi những tứ thơ Thiền cho những tâm hồn thi sĩ. Cũng do thấy cảnh tượng trăm hoa đua nở, mây ngàn đăng cụm mà vua Lê Thánh Tông (thời Lê – Sơ thế kỷ XV) trong  khi vãng cảnh đã đặt tên chùa là Hoa Yên.

Ba gốc đại cổ thụ hoành tráng tạc vào trời xanh những đường nét phong sương và màn hoa trắng ngần bung nở, cũng là một chúng tích đáng kể của Sơn môn Yên Tử.

Thật chí lý biết bao khi Chủ tịch nước Trần Đức Lương trong chuyến thăm Yên Tử có phát biểu: “Ở Yên Tử những cây đại, cây tùng, rừng trúc quí vô giá. Một ngôi chùa lớn chỉ cần xây vài tháng là xong, còn cây đại, cây tùng cổ thụ thì phải 700 năm mới có”.

Cây Yên Tử – một trong tài sản vật chất văn hoá quốc gia lẽ nào lại để mất mát tàn lụi. Vị vậy mỗi khi thu bổ, mở mang xây dựng quần thể di tích thiêng liêng này Nhà nước và địa phương cùng các cơ quan chức năng phải hết sức quan tâm đến việc bảo vệ thích đáng (kè đá, đồ đất và chiết cành để gây giống). Hy vọng với những chính sách thiết thực trong việc bảo tồn di tích danh thắng Yên Tử sẽ xứng đáng là một trong những trung tâm thu hút khách giáo Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập.

Hà Nội, hè năm 2001

Tham luận khoa học của Trung Thị Kim Dung

Thư ký toà soạn Báo Phụ nữ Thủ đô

72 Quán sứ – Hà Nội – Tel: 9424541