|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
GHI CHÚ VỀ BỘ SƯU TẬP |
|
HIỆN VẬT KHẢO CỔ HỌC |
|
PHÁT HIỆN Ở YÊN TỬ |
|
TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY |
|
Trịnh
Cao Tưởng - Viện khảo cổ học |
|
Lời mở. Tôi
xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban quản lý khu di tích
yên Tử đã cho tôi có cơ hội được tiếp xúc với Bộ sưu
tập các hiện vật Khảo cổ học được phát hiện trong
thời gian gần đây. Dưới
đây, tôi xin phép trình ra đôi điều nhận xét về Bộ sưu
tập quý này. A.
NHẬN DIỆN BỘ SƯ TẬP: Bộ
sư tập này bao gồm ba loại chất liệu là: đồ đá, đồ
gốm và đổ gỗ. I.
Đồ đá: Tôi
được tiếp xúc với 7 hiện vật đá bao gồm: đầu rồng,
bệ tượng Tam thế đây là một trong ba bệ đá của chùa
Hoa Yên, hai chiến còn lại đang nằm trước sân chùa dùng kê
chân cột cờ và chậu hoa: tay vịn tần bậc, đá trang trí
kiến trúc: một khối chạm rồng cuộn và một khối chạm
nghệ. 7
hiện vật đá có công năng và niên đại khác nhau. Theo ý
kiến của tôi, đầu rồng có niên đại sớm hơn cả:
Khoảng cuối thế kỷ 12. Chiếc tay vịn thành bậc chạm sóc
đá đã bị bào mòn không còn rõ hình sóc nữa, nhưng ta
vẫn thấy nó phảng phất phong cách nghệ thuật thời Lê sơ
– thế kỷ XV. Các hiện vật còn lại, đều mang trên mình
nó dấu ấn của nghệ thuật thời Lê trung hưng – thế
kỷ XVII và có thể nhích sang đầu XVIII vài năm. II.
Đồ gốm: Bộ
sưu tập gốm Yên Tử khá phong phú và đa dạng bao gồm ba
loại hình: 1.
Gốm đất nung. Bao
gồm gạch lát nền hoa cúc cỡ 40cm x 40 cm; mô hình tháp mộ
một tầng mái; các vật liệu lợp như: ngói mũi hài đơn,
ngói mũi hài kép, ngói bò trang trí hình chim phượng, đầu
rồng ở nơi mái, tượng vịt … Những hiện vật này đều
là vật liệu xây dựng thời Trần. 2.
Gốm tráng men. Gồm
ba loại: Gốm gia dụng, đồ tế khí, gốm kiến trúc. -
Gốm gia dụng. Đồ
gồm gia dụng bao gồm các loại bát, đĩa, lọ miệng cạp
miệng hình ống thẳng, lọ miệng loe … phần lớn đều tráng
men vàng ngà, một số được trang trí hoa văn đơn giản
bằng men nâu rỉ sắt … Căn cứ trên kiểu dáng, màu men,
chất liệu có thể đoán định chúng đều là sản phẩm
của lò gốm Hợp Lễ, xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh
Hải Dương có niên đại thế kỷ XVII. -
Đồ tế khí. Có
2 mảnh thân của chiếc chân đèn gốm hoa lam có niên đại
thế kỷ XVI. Một bức ảnh tư liệu của Ban quản lý di tích
chụp một chiếc chân đèn thời Mạc tuyệt đẹp khác đã
bị sửa chữa thành bình đựng xá lị đã bị chôn lại
trong một ngôi tháp mộ. Trong
tủ trưng còn có một mảnh chân của chiếc bệ nhỏ. Dựa
vào hoa văn hình dao mác nổi trên mặt có thể xác định nó
có niên đại thế kỷ XVII. -
Gốm kiến trúc. Có
ba mảnh đều được tráng men. Một mảnh có văn hoa chanh in
nổi. Do hiện vật không còn nguyên vẹn nên không thể
nhận ra công năng và vị trí của chúng trong công trình. Men
và hoa văn có khả năng nó cũng là những sản phẩm có niên
đại thế kỷ XVII. 3.
Gốm sành: Không
có được con số cụ thể nhưng tôi đã quan sát được
khoảng 10 chiếc lọ sành nhỏ như loại bình đựng rượu cúng
– có lẽ là của khách thập phương bình dân. Hai trong
những chiếc lọ sành, hình ống cổ cao mang đặc trưng
của đồ sành thế kỷ XVI – XVII, thời “bùng bổ của sành”
trong lịch sử gốm Việt Nam. III.
Đồ gỗ: Một
hiện vật duy nhất là tượng bán thân thần nữ – có
thể là tượng mẩu cao khoảng 35cm. Tượng tạc một người
phụ nữ mang chất chân dung nhiều hơn là tượng thần. Đầu
tượng đội mũ có đính một bông hoa cúc to phía trên trán
và có điểm trang trí văn mây. Tác
phẩm độc đáo này thể hiện những đặc điểm của
nghệ thuật điêu khắc dân gian Việt Nam thế kỷ thứ XVII
rất rõ. B.
GIÁ TRỊ THÔNG TIN RÚT RA TỪ BỘ SƯU TẬP. Do
kiến thức còn hạn hẹp, thời gian tiếp xúc với hiện
vật quá ngắn ngủi nên những thông tin mà chúng tôi nhận
được từ bộ sưu tập không phải đã đầy đủ và chính
xác, song cũng xin được mạnh dạn trình ra dưới đây. 1-
Phải chăng ta đã tìm thấy dấu vết “am cỏ” của
Thông Thiên cư sĩ. Như
chúng ta đã biết, theo Thiền tuyển tập anh Thông Thiên cư
sĩ, đệ tử của Thường Chiếu thế hệ thứ 13 dòng
Thiền Vô ngôn thông vào khoảng cuối thời Lý đã dựng
“am cỏ” để tu hành. Sau khi nhà Trần mở mang Yên Tử
biến non thiêng thành thánh địa Trúc Lâm thì các đời sau
hầu như đã quên không nghĩa tới việc đi tìm dấu vết
của thời mở nền xây móng nữa. Đầu
rồng đá của bộ sưu tập là một tư liệu – hiện có
thể được coi là duy nhất, hình ảnh còn sót lại của
Thiền viện Vô ngôn thông trên núi Yên Tử. Như vậy, có
thể đoán định rằng, dưới thời Lý Y6en Tử chưa có quy
mô đồ sộ như thời trần, song đã có sự hiện diện
của công trình kiến trúc – nghệ thuật tiêu biểu của
thời đại. Nó xác tín thêm “cuộc hành trình về biển”
của cha ông ta sau đêm trường Bắc thuộc mà chúng tôi đã
đề cập đến trong một báo cáo khác ở hội thảo này. 2-
Những di vật kiến trúc trong bộ sưu tập cung cấp
những giá trị thông tin quan trọng giúp cho việc phác dựng
bức tranh kiến trúc Yên Tử thời Trần. Ngoại
trừ tháp Tổ, Yên Tử hôm nay không còn một bóng chùa tháp
nào của Trúc Lâm nữa. Nhưng may mắn thay, những di vật
trong bộ sưu tập đã bước đầu giúp ta xác định được
vị trí và hình dung được phần nào bức tranh chùa tháp Yên
Tử thời Trúc Lâm. Tại các nơi như: Chùa Lân, chùa Hoa Yên,
tháp Tổ, tháp Độ Nhân đều là nhưng công trình kiến trúc
được xây dựng dưới thời Trần. Ngoài việc xác định
vị trí ta còn có thể phác dựng được bộ mặt công trình.
Đó là những nếp chùa không thể không nói là nguy nga và
tráng lệ với: ngói bò mang trên lưng rồng, phượng chạy dài
trên bờ nóc; trên bờ dải có vịt xoè cánh bay; tận cùng
nơi nóc mái có đầu rồng lực lưỡng ngự trên bờ dải;
đường đi, lối lại lát gạch in hoa lắp ghép với nhau
bằng một hệ thống mộng đa chiều tinh xảo, trên Phật điện
đồ tế khí với gốm men vàng ngà mờ trong khói hương… Những
vật liệu kiến trúc tìm được trên Yên Tử giống hệt như
vật liệu đã tìm được ở hành cung Thiên Trường; ở khu
mộ tổ nhà Trần ở Tam Đường; ở kinh thành Thăng Long…
đò là những công trình quan trọng bậc nhất thời bấy
giờ đủ cho thấy vị thế của chùa tháp Yên Tử như thế
nào trong thời đại nhà Trần. 3-
Yên Tử là một khu di tích có nhiều tầng văn hoá. Ngoài
các di vật thời Lý và thời Trần đã nói trên, chiếm tỉ
lệ lớn nhất trong bộ sưu tập là các di vật thời Lê và
một số ít thời Nguyễn. Thế
kỷ XV góp mặt vào di sản văn hoá Yên Tử một di vật
nổi tiếng là tượng Trần Nhân Tông trong lòng tháp Huệ
Quang như chúng ta đã biết, còn trong bộ sưu tập mới phát
hiện có khả năng là một lan can thành bậc chạm sóc. Thế
kỷ XVI ghi dấu ấn thời đại trên Yên Tử là một tháp
men, và trong bộ sưu tập có mặt của một số chân đèn
thời Mạc gốm hoa rất đẹp. Chiếm
tỉ lệ cao nhất trong bộ sưu tập là các hiện vật thuộc
thế kỷ XVII gồm: bệ tượng tam thế, bệ tượng nhỏ, lan
can chạm sư tử bằng đá … và hàng trăm hiện vật
gốm men nhưng chỉ thu
lượm bằng hiện vật nguyên lành cho Ban quản lý di tích. Hai
mươi pho tượng Kim cương và Văn quan bằng đất sét nung màu
đen bên ngoài có phủ sơn son thếp vàng là những pho tượng
được gắn trên 9 con rồng bao quanh tượng Phật đản sinh
– mà ta thường gọi là toà Thích ca cửu long. Đó là sự
góp mặt của nghệ
thuật thời Nguyễn vào bộ sưu tập hiện vật yên Tử. (Báo
chí đưa tin cách đây 300 năm). Tôi vui mừng được biết,
Ban quản lý di tích Yên Tử đang có kế hoạch sưu tầm thêm
vật liệu kiến trúc: gạch, ngói, đồ gốm thời Nguyễn
cho bộ sưu tập. Như
vậy, có thể khẳng định Yên Tử không phải chỉ là công
quả của thời Trần mà của nhiều thời đại với một
tầng văn hoá đầy 1000 năm lịch sử. Điều này khiến ta nên
dè đặt hơn – ví lâu nay trong việc giới thiệu Yên Tử các
nhà nghiên cứu đều mặc nhiên coi tất cả c1ac công trình
kiến trúc trên yên Tử các nhà nghiên cứu đều mặc nhiên
coi tất cả các công trình kiến trúc trên Yên Tử đều trùng
tu trên nền các kiến trúc có từ thời Trần. Một khi chưa
có các cuộc đàm thăm dò trong lòng đất thì một câu hỏi
sẽ vẫn tồn tại: có phải tất cả mọi công trình xây
dựng dưới thời Trần hay phức hợp chùa tháp Yên Tử hôm
nay là công quả nhiều thời. Câu
hỏi này đã đặt ra trước các kiến trúc sư cần phải có
sự thận trọng đặc biệt trong việc trùng tu các di tích
trên Yên Tử. 4-
Góp phần xác tín thêm một cuộc chấn hưng Phật giáo
đã xảy ra vào thế kỷ XVII. Thế
kỷ thứ XVII là thế kỷ của chiến tranh huynh đệ tương tàn
giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn. Trong
khoảng gần nửa thế kỷ suốt từ năm 1627 đến năm 1672
hai bên đánh nhau 7 lần, có lần kéo dài hết năm này qua năm
khác. Cả một vùng Nghệ An – Bố Chính (Hà Tĩnh – Quảng
Bình) trở thành chiến trường của cuộc nội chiến tàn
khốc ấy. Đồng
bằng Bắc bộ may mắn không phải chịu cảnh “xương phơi
đầy bãi, màu chảy thành sông” nhưng nền kinh tế bị
ảnh hưởng nặng nề. Trước tình hình đó, cuối thế kỷ
XVI đầu thế kỷ XVII họ Trịnh đã phải ban bố lệnh
miễn lao dịch cho nhân dân lưu tán, bãi bỏ các khoản
thuế thân, giảm nhẹ thuế khoá. Nhờ đó, kinh tế đàng
ngoài dần được hồi phục. Đầu thế kỷ XVII các thành
thị trở nên phồn vinh. Thăng Long – Phố Hiến trở nên
sầm uất. Kinh tế hàng hoá phát triển tạo tiền đề tốt
cho việc phát triển quan hệ buôn bán với nước ngoài. Hoàn
cảnh lịch sử đó đã khiến cho khắp các làng
quê bỏ tiền, hiến của vào việc trùng tu chùa
chiền, đình quán. Nếu như thế kỷ XVII là trang đẹp
nhất của đình làng Việt Nam thì các chùa lớn nhất của
đất nước cũng đã được trùng tu hoặc xây mới như: Chùa
Keo (Thái Bình); Bút Tháp (Bắc Ninh), Đại Bi, Thiên Phúc (Hà
Tây)… tôi đã có dịp ngợi ca vẻ đẹp của nghệ thuật
điêu khắc dân gian thế kỷ XVII “là thời khắc Việt Nam
nhất trong dòng suối thẩm mỹ của dân tộc nó từ chối
mọi khuôn mẫu của nền nghệ thuật tạo hình trước đó:
tỉ mỉ trong nét, tĩnh tại trong bố cục, ưa chuộng nhịp
điệu đều đặn, tôn trọng luật viễn cận, bộc lộ
thần thái hướng tới sự ổn định …” để bộ lộ
những đường nét mạnh mẽ như phác thảo; những hình
khối mập mạp; những nhịp điệu chuyển động cuồn
cuộc; xem thường các pháp thức” … Pho tượng mẫu bán
thân nào cho mỹ thuật thời đại – bà có một khuôn mặt
mang đậm nét chân dung của một người phụ nữ chất phác
không giống với gương mặt được tạc theo quy pháp tạc
tượng thờ. Tượng được thể hiện bằng các khối đầy
đặn, hoa văn trên y phục sắc sảo, khúc chiết. Đó là
phẩm chất nghệ thuật muốn bộ lộ ham muốn phục hưng các
giá trị của nghệ thuật Trần trên một bình diện khác,
hoàn toàn khác với những nghệ sĩ tạo hình thế kỷ XV
muốn lấy nghệ thuật Lý làm khuôn mẫu. Sự
có mặt một số lớn di vật của thế kỷ XVII trong bộ sưu
tập Yên Tử khẳng định Yên Tử đã được tôn tạo vào
thời kỳ này. Cuộc “phục hưng” này chỉ tu sửa các di
tích bị hư hại hay còn xây mới thêm chùa tháp trên Yên
Tử? Đó là một câu hỏi lớn. Đáng tiếc là, câu hỏi này
chưa hề thấy ai nêu lên từ trước tới nay. Do vậy, một
việc làm rất cần thiết là phải xác định cho rõ các bước
đi của “phức hợp kiến trúc Phật giáo Yên Tử” qua
thời gian. III.
Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền: Bộ
sưu tập hiện vật Khảo cổ học phát hiện ở Yên Tử
trong thời gian dần đây chưa phải là bộ sưu tập thật đồ
sộ song – một người nghiên cứu bình thường, không học
hành như tôi mới thử đọc cũng đã thấy nó chứa đựng
nhiều thông tin đáng quý và bổ ích. Theo
lời ông Trưởng Ban quản lý di tích Yên Tử – Nguyễn
Trần Chương cho biết phần lớn hiện vật sưu tầm được
chỉ sau hai hoạt động nhỏ trong lòng đất Yên Tử là:
Bảo vệ cây đại và một khu dịch vụ phía đông Hoa Yên.
Điều đó làm cho ta hoàn toàn có thể tin được rằng, lòng
đất Yên Tử đang còn ẩn chứa nhiều giá trị vật chất
của thời Trần. Lưỡi cuốc khảo cổ học chắc chắn sẽ
còn mang lại nhiều thông tin quý hơn đang được rừng xanh
che chở suốt 700 năm qua. Vì
vậy, theo tôi trước khi tiến hành trùng tu, tôn tạo khu di
tích Yên Tử cần phải tổ chức một cuộc điều tra tổng
thể các giá trị văn hoá của Yên Tử. Xin đơn cử hiện
một ví dụ: trong cuộc viếng thăm vẻn vẹn có nửa ngày
vừa qua, chúng tôi đã phát hiện thêm nhiều vật liệu
kiến trúc Trần sau lưng tháp Động Nhân – vị trí này chưa
được ghi nhận trong bất kỳ một tài liệu nào. Đối
với bất cứ một công trình nào trên Yên Tử muốn phục
dựng lại đều cần phải thăm dò lòng đất xem nó thuộc
thời đại nào: quy mô ra sao: vật liệu kiến trúc như thế
nào? … Đó là cơ sở giúp cho công việc thiết kế, để
không cho “râu ông nọ cắm cằm bà kia” như câu phương
ngôn của ông bà. Việc
làm này còn thể hiện chúng ta tôn trọng luật pháp; chúng
ta hành xử như một con người có văn hoá; chúng ta biết trân
trọng các di sản văn hoá; chúng ta là những người yêu
mến quá khứ vẻ vang của dân tộc. Sau
cùng, tôi muốn gởi đến Hội thảo này một chút lo xa: Yên
Tử là một trung tâm Phật giáo lớn nhất thời Trần, cho
đến ngày nay vẫn có sức hấp dẫn đích của những người
sáng lập, nó còn là niềm tự hào của tất cả mọi người
Việt nam về một trang sử oai hùng nhất của dân tộc. Do
vậy, việc ai đó, với bất kỳ một chủ đích nào muốn các
công trình thời hiện đại được xây dựng nên một cách
vội vã, không thèm đếm xỉa gì đến việc thăm dò lòng
đất, sẽ mang lại những hệ luỵ khôn lường về sự tuân
thủ đường lối văn hoá của Đảng và Nhà nước cũng như
việc bảo vệ sự ổn định của các xã hội xuất phát
từ những vấn đền tôn giáo và văn hoá. Nên xin hãy bình
tĩnh, đừng để cho Yên Tử góp thêm vào danh sách những ví
dụ buồn trong khi chủ trương của chúng ta đúng đắn, tâm
chúng ta trong sáng, lòng chúng ta thẳng ngay, nhiệt tình của
chúng ta tràn trề Xin
cảm ơn quý vị |