HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ

PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN 

VÀ VĂN HOÁ ĐẠI VIỆT

Nhà báo Văn Quân

*****

Tôi có diễm phúc là con cháu nhà Trần, lại vinh hạnh được Ban tổ chức Hội thảo cho phép tham luận đề tài: “Phật giáo đời Trần và văn hoá Đại Việt”. Quả thật, về Phật giáp đời Trần thì cơ bản đã phải và nhất thiết phải được nhìn nhận trong dòng chảy chung của văn hoá Việt Nam. Bởi vậy, trong khuôn khổ tham luận này, tôi chỉ xin được đề cập một số ý tâm đắc nhất.

Phật giáo vào Việt Nam khoảng 2000 năm nay. Nhưng xét từ căn cốt và nền sống cộng đồng, thực đã sẵn có mầm mống của tinh thần Phật Giáo. Nó theo nhau như bóng với hình suốt cả hành trình dân tộc, mà giai đoạn nhà Trần là tiêu biểu và rực rỡ.

Khi ta nói: thời đại Trần triều là đỉnh cao của lịch sử nước nhà thì cũng có nghĩa khẳng định: Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam. Sự nảy nở và lan toả của nó chính là cốt lõi văn hoá Việt, là nỗ lực tạo dựng nền tảng vững chắc của xã hội đương thời, cho phép phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc mà ngày nay ta gọi là “nội lực”. Đồng thời, chính dân tộc đã biết dựa vào đó để quật khởi . thực tế đời Trần, người ta dường như không thấy rõ ranh giới giữa đạo và đời. Ở đời phải biết tự lo tu thân. Ở đạo phải biết lo đời (hiểu là bổn phận công dân). Người người từ vua quan đến dân thường đều mộ đạo và đến với đạo hoàn toàn không phải chỉ vì chán đời (Ngược lại còn yếu tha thiết hơn), mà căn bản là để tự hoàn thiện và hướng thượng bận ba chuyện khó dễ hay ngược lại – lợi dụng tôn giáo vào những mục đích phi nhân. Với nó và như thế nhà Trần đã làm được cái việc mà các triều đại trước và sau đều không dễ thực hiện. Có thể nói thế kỷ 13, đất nước đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên mọi phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật… (Nhà Trần tiếp thu nhà Lý mà không có đổ máu, nhất là với sinh dân. Liền đó là công cuộc giữ nước oai hùng, với ba lần đánh thắng Nguyên – Mông. Dựng nước thì mở cõi và xây nền thịnh trị: Trọng nông với lệ tịch điền, chính sách khẫn hoang và miễn giảm tô thuế đã biến người vô sản thành hữu sản… Trọng sĩ với sự học được đề cao, hiền tài nở rộ, nền khoa tảng Việt Nam chưa bao giờ thấy xuất lộ những Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa trẻ tuổi như ở đời Trần “tính không” – “Tứ đại vốn là Vô, ngũ uẩn chẳng phải Hữu” (Khoá hư lục) – coi tất cả là không, tôn cao nguyên tắc “Kiến tính thành Phật” – “Phàm người học đạo chỉ cần kiến tính” và kêu gọi “cố thủ nội khán” – hãy quay đầu nhìn vào phía trong, coi trọng sám hối. Dầu sao, vấn đề là ở chỗ ông đã biết hướng tới những con người bình thường chúng sinh. Nhưng với Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (1230 -1291) thì đã khác. Vả lại trước tác quý giá của ông còn để lại “Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục” đã khiến yên lòng những ai ít nhiều muốn tìm đến với Phật giáo đời Trần. Vượt lên tầm nhận thức của Trần Thái Tông, ông khẳng định và làm rõ quan điểm “tức Tâm, tức Phật”:

Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm

Phật tâm khướt dữ ngã tâm hợp

Pháp nhỉ như thiên hoàn cổ kim.

(Tâm của vạn pháp là tâm của Phật. Tâm của Phật lại phù hợp với tâm của ta. Cái pháp đó vẫn tự nhiên như vậy từ xưa đến nay) bài “Phật tâm ca”.

Chính từ đó mà ông chủ trương hoà gắn với đời (Bản thân ông là cư sĩ tại gia) tôn trọng hết mức quy luật tự nhiên, đến mức ông xem nhẹ cả trì giới và nhẫn nhục trong lục hạnh độ của nhà Phật. Trong bài “Thượng sĩ hành trạng”- Trần Nhân Tông đã viết về người thầy của mình: “Sống lẫn với đời tục, hoà sáng trong bụi bặm, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay làm trái ngược” (Hỗn tục hoà quang, dữ vật vi thường xúc ngỗ). Cũng vì thế mà ông kêu gọi tuỳ duyên, tuỳ tục – sống tuỳ duyên theo lẽ trời, tuỳ tục theo lẽ đời và hành xử theo tâm ấy đã là thiền, là tột cùng của sự thanh thản kiếp người, kiếp tu. Có vậy ông mới viết lên cái điều gan ruột của mình:

Dầu cho đường tục chông gai mấy

Lão chẳng như xưa bước ngại ngùng.

Thầy như vậy, ắt trò như vậy. Và hơn hết, Trần Nhân Tông đã xuất gia vào đúng cái lúc có thể toàn quyền hưởng nhà ở ngôi cao. Cố nhiên, ông lên Yên Tử không phải để thuần “lánh đục tìm trong”, mà là cái cách dấn thân chẳng hề kém phần cam go so với trước đó ấy là nỗ lực tìm kiếm phương cách khai phóng con người, khai phóng nội lực dân tộc. Vị sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm đã thẳng thắn bộ lộ về văn hoá, không chỉ tiếp thu mà còn phát huy tột bậc các giá trị yêu nước, dân chủ, đoàn kết, tự tôn dân tộc… Đây cũng là thời kỳ khai mở nền văn học thành văn của nước nhà …) Đặc biệt là việc xác lập được chuẩn đạo trong giáo hoá con người, mà Thiền phái Trúc Lâm có vai trò trọng yếu. Nếu coi văn hoá là tất cả những gì góp phần đem lại cho con người niềm vui và sự thanh thản thì đó chính là gương mặt đặc sắc của Đại Việt thế kỷ 13.

Tôi cũng cho rằng, đối với đời sống con người và đất nước thời nào cũng thế kinh tế hiểu nhiều là cần, là quan trọng. Nhưng thiết nghĩ, hàng đầu phải là văn hoá – giáo dục. Sự ổn định và hưng thịnh phải được và luôn luôn được định hướng và cầm trịch từ một căn bản văn hoá mang bản sắc riêng cũng một nền giáo dục lành mạnh. Những tố chất đó tạo nên tầm mức nhân cách của cá nhân và cả cộng đồng. Nếu không, sự giàu có vật chất sẽ mất đi nền tảng và sự đảm bảo căn cốt, để làm tha hoá và nảy sinh chủ yếu là lớp người trọc phú. Một xã hội mà số người ấy chiếm ưu thế, ắt dẫn đến đồi truỵ và loạn ly. Một dân tộc mà phần đông con dân như thế, ắt sẽ suy vong và bị lợi dụng, thậm chí bi khinh bỉ. Cách chúng ta hơn 700 năm, các vua nhà Trần nhất là Trần Nhân Tông, người đã cùng dân tộc kết thúc vẻ vang sự nnghiệp giữ nước và khởi dựng Thiền phái Trúc Lâm hẳn đã ý thức sâu sắc điều đó và dấn thân nhận lãnh sứ mệnh xác lập chuẩn đạo trong giáo hoá muôn dân, không phải chỉ cho một thời mà là nhiều thời kế tiếp. Bởi vậy, chúng ta không thấy khó khăn để nhận rõ sự tương sánh và gắn quyện như nhất gữa tinh thần Phật giáo đời Trần với nền sống và văn hoá Đại Việt hơn thế, là nền sống và văn hoá Việt Nam.

Có thể chọn nêu dẫn tư tưởng Phật giáo đời Trần nổi bật ở những giá trị sau:

1.    Đề cao tinh thần nhập thế tích cựa. Đây chính là dấu ấn rõ rệt nhất của sự giao thoa sống động giữa đời và đạo, giữa văn hoá Đại Việt với Phật giáo đời Trần. Ấy là thời điểm dân tộc phải dồn tất cả nhân tài, vật lực cho công cuộc giữ nước và dựng nước. Nói một cách khác, chính tinh thần và ý thức tự cường dân tộc đã thổi ào Phật giáo đời Trần luồng sinh khí mới, làm nên dáng vẻ trong lành và xu thế tích cực nhất. Nên nhớ, cũng như trước đó buổi đầu tư tưởng Phật giáo đời Trần, với Trần Thái Tông - ông vua khai mở triều đại và chuyên chú vào Phật học – vẫn còn quẩn quanh với quan điểm của mình, làm sáng tỏ hơn những gì mà các bậc tiền bối đã có: “Đạo lớn quảng đại không hư, không bị ràng buộc câu thúc. Bản tính lặng yên trong trẻo, không thiện không ác. Chỉ vì phân biệt, kén chọn nên sinh ra lắm mối nhiều đường … Ai ai cũng đủ bản tính, người người đều được viên thành … “Tư tưởng siêu việt này của ông được trình bày sáng rõ nhất, kỹ lưỡng nhất và cũng lay động nhất là ở bài phú “Cư trần lạc đạo” – đúng với nghĩa: Sống ở giữa đời trần tục, bụi bặm mà vui với đạo. Nhiều vị học đạo giữa đời thường thì nhiều người có thể bàn, với nhiều cách bàn khác nhau. Nhưng một ông vua hiển hách, một vị anh hùng dân tộc, một nhân cách lớn như Trúc Lâm Điều Ngư mà bàn tới thì quả là xác tín. Hãy nghe lời nói cuối cùng của ông với các đệ tử trước phút lâm chung – khi họ dìu ông lên đỉnh Ngoạ Vân: “Các ngươi hãy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việc nhàn”. Vâng một con người sống hết mình vì nghĩa lớn và ngay cả khi đã xuất gia đầu Phật cũng lại là để lo cho việc trường tồn dân tộc thì làm sao có thể sống nhàn, nhất lại là để hưởng thụ? Phẩm hạnh cao quý ấy chính là tinh hoa của lẽ sống và tâm hồn dân tộc, vốn nghiệp thuần nông – quen với thanh bần lạc đạo, quen nếp kiệm cần và tự đủ để tạo nhân hoà. Được thế thời vinh,không thế thời hoạ. Đó là gốc rễ của đạo đức và truyền thống Việt Nam.

2.    Coi trọng Tâm tức Tâm tức Phật. Đối với người Việt Nam chúng ta, xét từ văn hiến - văn hoá giống nòi đến đời sống dân dã – thảy đều không xa lạ với chuyện này. Thậm chí, đó lại là phần tinh quý nhất, cao đẹp nhất của điệu sống dân tộc. Ấy là bản chất nhân nghĩa được và cần được vun đắp từ đời này qua đời khác, mà hạt nhân của nó chính al2 tâm. Một thời, khi cầm bút khai lý lịch – phần tôn giáo, chúng ta ghì là “Lương”. Đó là dư âm thứ tôn giáo cổ truyền của người Kinh, quen thờ Lương Tâm. Thế kỷ 15, Nguyên Trãi khi dâng kế binh Ngô cũng chọn chữ Tâm – Tâm công (đánh vào lòng người) để triệt nọc tham vọng xâm lăng của kẻ thù nhất trong lịch sử dân tộc – 300 năm vắng bóng ngoại xâm. Cái Tâm ấy còn lớn đến nỗi – dân Nam ta không chỉ tôn thờ Trời Đất, Thánh thần và những người có công với dân với nước, mà lập cả đền thờ để hương khói cho những kẻ từng đô hộ mình như Mã Viện, Liễu Thăng để chúng đừng quấy nhiễu thêm … Bởi vậy, thật dễ hiểu và chứng nghiệm “Tâm tông” của Phật giáo đời Trần. Nó xuyên suốt trong quá trình truyền thừa và hợp thành giá trị truyền thống của đời sống và lề thói ứng xử cộng đồng. Về phương diện này, đặc sắc có câu chuyện lời khuyên của bậc Qốc sư ở chùa Vân Yên, khi vua Tr6àn Thái Tông quyết định rời ngai vàng lên núi Yên Tử: “Trong núi vốn không có Phật. Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà sáng suốt mà biết thì đó chính là Phật (Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm. Tâm tịch nhi tri thị danh chân Phật). Vào năm 1306, trong một cuộc tham thiền, Trần Nhân Tông cũng đã nói: “Pháp tức là Tính. Phật tức là Tâm. Vậy thì Tính nào không phải Pháp, Tâm nào không phải Phật? Tâm là Phật, mà Tâm cũng là Pháp”. Tư tưởng nhất quán ấy còn có thể nhận chân trong “Cu trần lạc đao phú”, ví như bốn âu kệ ở cuối bài:

Sống giữa phàm trần hãy tuỳ duyên mà vui với đạp.

Đói thì ăn, mệt thì ngủ.

Trong nhà sẵn có báu, đừng tìm đâu khác

Đối diện với cảnh mà biết vô tâm thì không cần phải hỏi thiền nữa.

Cũng từ sức mạnh giáo hoá ấy mà sau ông, Phật giáo đời Trần tiếp tục phát triển, nhất là thời nhị tổ Pháp hoa. Lúc này chẳng cứ gì dân đen, do hợp lòng người tu theo ngũ giới, thập thiện – mà đông đảo giới quý tộc nhà Trần vốn quen hưởng ơn vua lộc nước đã thức ngộ mà chăm lo nết hạnh, kẻ cả xuất gia hay tại gia. Đó là cả công cuộc lớn nhằm ta5o tác nền móng cho sự bình ổn và thăng tiến xã hội – là nghiệp lớn và phúc lớn. Bởi điều này chỉ có thể đạt được khi từng cá nhân và cả cộng đồng biết tự ý thức và sống theo chuẩn đạo. Khi đó tâm tính cá nhân bình ổn thì gia đình (dòng họ) vững – già đình và dòng họ vững thì làng vững – làng vững thì nước vững – đó là chiều thuận duy nhất cho tiến trình dân tộc, không thể khác!

Còn có thể liệt kê và phân định nhiều điều lý thú, nhưng chỉ thế thôi đã thấy thật khó có thể tách bạch các giá trị trên – đâu là của Phật giáo đời Trần và đâu là của văn hoá Đại Việt, văn hoá Việt Nam. Vậy mà Phật giáo đời Trần, với biểu tượng Trúc Lâm Yên Tử đã không gánh nỗi công việc tăng tiến giáo hội, chủ yếu được nhìn thấy phảng phất trong bài “Diên Hựu tự”:

… Vạn duyên bất nhiễm thành già tục

Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan

Tham thấu thị phi bình đẳng tướng

Ma cung Phật quốc bảo sinh quan.

(Vạn duyên không quấy nhiễu ta nữa, vì đã cp1 một bức thành ngăn che để không vướng tục luỵ, phiền não.

Khi tâm hồn đã không còn mảy may lo lắng thì tầm mắt có thể mở rộng.

Khi đã thấu triệt được tướng bình đẳng của “thị” và “phi”, nghĩa là giữa “thị” và “phi” không có sự đối lập thì không có gì khác giữa ma và Phật, đâu cũng là nước Phật – cung ma cũng thành nước Phật).

Việc lụi tàn sớm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã khiến cho hậu thế không chỉ tiếc nuối vì sự thiếu vắng một dáng hình, thuộc về bản sắc dân tộc, mà còn nảy sinh xu hướng muốn đánh giá lại tính thực của nó không chỉ với riêng giáo hội, mà còn trong quá trình tiếp biến văn hoá – tư tưởng về sau. Quả thật, đây cũng là một phương diện lý thú khi nhìn nhận vấn đề trong mối tương ánh mật thiết giữa Phật giáo đời Trần với căn cốt văn hoá và lối sống dân tộc. Dân tộc ta vốn nhỏ bé và chậm phát triển – nhược tiểu – chỉ là  giải đất hẹp bên mép nước biển Đông, với thiên nhiên khắc nghiệt, lại truyền đời phải đối mặt với nghèo đói và giặc đã triền miên. Lịch sử dân tộc vì thế dường như chỉ thấy nhiều những chịu đựng, mất mát và hi sinh. Đã thế, về mặt văn hoá lại kề cận những quốc gia lớn và mạnh, vốn có thừa tham vọng thôn tính và đồng hoá. Bởi vậy, có lẽ vấn đề hàng đầu là tồn tại. Và trên thực tế hàng ngàn năm qua, chưa bao giờ dân tộc ta cất nhẹ được mối lo tồn tại và trụ vững để tìm cơ vượt thoát và lớn mạnh. Cũng đã trải hàng ngàn năm can trường như thế, cha ông ta đã thấm nhuần nghiệp sống dân tộc mà tìm cách ẩn hoà các giá trị cốt tử vào với núi sông, vào cái nhỏ nhoi và bình dị – như tạo thế “hoành” để chống phá thế “tung”. Ấy chính là cái “lý” để trường tồn qua bão tố lịch sử và can qua, là cái “bất biến” để ứng với “vạn biến” vậy. Như vậy, hệ giá trị dân tộc chủ yếu cậy nhờ ở sự thấm đẫm vào trong tâm thức và máu thịt mỗi người dân và cả cộng đồng, cắm trải bền vững ở mỗi thôn làng Việt Nam. Sư tàn lụi của Phật giáo đời Trần, với Trúc Lâm yên Tử cũng như thế – nó khó, thậm chí không thể hiện hữu dài lâu trước thử thách ghê gớm của thời gian, mưa nắng, chiến tranh và cả lòng người nữa. Nhưng nó chắc chắn không bao giờ mất. Aâu cũng là chuyện “sắc sắc, không không” vậy. Mà trong thế giới này, sức mạnh giữa cái vô hình và hữu hình chưa đã dễ gì phân định hơn – thua. Tôi nhận ra sức mạnh ấy, đúng ra là sức sống ấy của tinh thần Phật giáo đời Trần, với Trúc Lâm Yên Tử ngay chính trong tâm thức và nền sống dân tộc. Vấn đề là khai thác, tập hợp và nhân lên như thế nào để hội thành sức mạnh phi thường như nhà Trần thế kỷ 13 đã làm một cách vẻ vang.

Tóm lại, cả khi nảy nở đến khi lụi tàn, Phật giáo đời Trần nói chung và Trúc Lâm Yên Tử nói riêng đều có thể cắt nghĩa và soi sáng trọn vẹn trong hệ quy chiếu của văn hoá Đại Việt, văn hoá Việt Nam. Và ngược lại, chính nó đã góp phần tạo nên dáng vẻ và tầm mức đặc sắc không chỉ của một thời, mà còn cho cả tiến trình dân tộc dài lâu. Do đó, thiển nghĩ cung cách ứng xử với Trúc Lâm Yên Tử thời Trần cũng chính là nằm trong cung cách ứng xử với văn hoá và truyền thống cha ông. Vậy thì hậu thế đâu cứ phải nhọc lòng trước sự thịnh – suy, mất – còn một thuở, là do tự thân Thiền phái Trúc Lâm hay do căn bản văn hoá dân tộc mà nên. Nếu có, xin được mượn lời Trần Nghệ Tông đã phải thốt lên khi vương triều suy vi:

Tự hận nhi tôn tham bão noãn

Bất tuỳ xung mật báo thâm ân

Có nghĩa:

Giận lũ cháu con ham bổng lộc

Không theo nghĩa lớn báo ơn đầy.

Bởi như chúng ta biết: Đánh mất văn hoá, đánh mất bản sắc là mất tất cả.

Một lần nữa, xin cám ơn Ban tổ chức, cảm ơn các vị học giả, các cấc bậc tu hành cùng đông đảo đại biểu. Xin được miễn chấp cho những gì còn chưa thoả đáng.

Hà Nội, ngày Phật đản 7.5.2001