HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ

YÊN TỬ TRONG LÒNG

CÁC THẾ HỆ DÂN VIỆT

Tham luận tại Hội thảo về Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm

Vũ Ngọc Tiến


Kính thưa các vị cao tăng,

Thưa các quý ông bà,

Nhân loại vừa trải qua thế kỷ XX đầy biến động. Số phận lại đã đẩy dân tộc Việt Nam vào những nấc thang tột cùng của sự biến động đó. Năm nay, năm Tân Tỵ, thoắt rồi sẽ đến năm Ất Dậu (2005). Ngẫm theo Chu Dịch thì tròn một hoa giáp ấy (1915-2005) dân tộc Việt Nam bị cuốn hút vào một chu kỳ biến động long trời lở đất, ắt rồi sẽ tạo lập một thế cân bằng mới, một hoa giáp mới (60 năm) của hoà bình, thịnh vượng và phát triển. Theo đà của sự biến dịch gần 60 năm qua, thân phận mỗi người dân Việt Nam đều có biết bao xáo trộn, và đời sống tâm linh không khỏi có lúc vọng động, bất an. Riêng tôi, một người viết văn, làm báo, mỗi khi tâm mình bất an, tôi thường hướng về Yên Tử, chợt thấy lòng tĩnh lặng, những muốn ngồi xếp bằng vi thiền tập định. Hình ảnh vị vua anh hùng Trần Nhân Tông cởi áo hoàng bào, rủi bỏ ngai vàng quyền lực, lên Yên Tử khai sáng ra Thiền Phái Trúc Lâm cứ ám ảnh tâm thức tôi. Rồi những triết lý thâm viễn, linh diệi của Trúc Lâm tam tổ đã khai mở hồn tôi, dẫn dắt tôi đi tìm trong nền văn hoá ký ức của dân tộc nguồn cảm hứng sáng tạo cho ngòi bút. Hôm nay, với tư cách một con dân nước Việt, tác giả cuốn tiểu thuyết “Khói mây Yên Tử”, tôi xin tham góp đôi điều về Thiền tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông và sự bất tử của triết thuyết do Người khởi xướng đã thấm sâu vào tim óc các thế hệ dân Việt suốt 7 thế kỷ qua.

I. Hoàn cảnh lịch sử và cơ sở Phật học của triết thuyết Trần Nhân Tông

Tôi đã nhiều đêm lật mở kinh sách, thả hồn vào cõi giới Thiền định. Lạ thay, càng được khai mở tâm linh, tôi càng nhận ra loài người trong thế kỷ văn minh đang quay về với hy vọng muốn thuở mà các vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đà bàn xét đến từ thế kỷ XIII. Trong cuốn sách “Hy vọng mới về sự thay đổi thế giới” (1951), nhà triết học lừng danh của thế kỷ XX là Bertrand Russell đã viết: “nhân loại vĩnh viễn thắc mắc về 3 sự xung đột căn bản, một là đối với thiên nhiên, hai là đối với người xung quanh, ba là đối với chính mình. Ba vấn đề ấy có thể đại khái quy về: con người thiên nhiên, con người xã hội và con người tâm linh”. Điều này từ thế kỷ XIII, khi chắt lọc tinh hoa Tam giáo (Nho , Phật, Lão), vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông đã phát hiện ra: Lão giáp bàn sâu về mối quan hệ giữ người và vũ trụ. Nho giáo bàn sâu về mối quan hệ giữa người với người trong toàn cõi nhân sinh. Phật giáo bàn sâu về mối quan hệ đa phức trong tâm thức mỗi người. Ngài đã thâu tóm những tinh hoa ấy vào trong triết học Thiền phái Trúc Lâm và bảo rằng:

Vi minh nhân vong phân Tam giáo

Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.

Nghĩa là:

Chưa sáng tỏ người ta lầm phân Tam giáo

Hiểu thấu triệt thì cùng giác ngộ: chỉ có một Tâm

Từ cái tuệ giác minh mẫn phi phàm ấy, Ngài đã thống nhất Tam giáo vào trong một chữ Tâm và khởi xướng thuyết ‘Tu trong một kiếp”, nghĩa là xuất thế, thoát tục, “đốn ngộ thành Phật” rồi sẽ trở lại nhập thế, giáo hoá muôn người, kiến tạo thế giới đại đồng, kiêm ái, tương lợi. Vì sao vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông có thể đứng ở tầm cao tư tưởng phán xét và chắt lọc tinh hoa của từng học thuyết trong Tam giáo để rồi hình thành nên triết thuyết cho Thiền phái Trúc Lâm? Điều này chỉ có thể lý giãi bằng quá trình du nhập và phát triển Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng ở Việt Nam qua nhiều thế kỷ trước đó. Lịch sử đã xác nhận Phật học vào Viuệt Nam theo 2 đường: từ Ấn Độ vào trước, sau mới giao thoa ảnh hướng qua lại với Phật giáo Trung Quốc …. Pháp sư Đàm Thiên trả lời vua Cao Tổ nhà Tuỳ (Trung QUốv) rằng: “Cõi Giao Châu có đường thông sang Tây Trúc gần hơn ta. Khi Phật giáo chưa du nhập vào đất Giang Đông vùng Hoa Hạ, thì cõi ấy đã xây được 20 ngọn tháp, độ hơn 500 tăng sĩ, dịch được 15 bộ kinh rồi. “Thời bắc thuộc, nhà Đường giảng dạy kinh Phật. Lê Quý Đôn trong sách Thiền Dật có ghi bài thơ của thi sĩ đời Đường là Dương Cự Nguyên viết khi tiễn biệt pháp sư Phụng Đình rời Tràng An trở về quê Nam Việt:

Cố hương Nam Việt ngoại

Vạn lý bạch vân phong

Kinh luân từ thiên khứ

Hương hoa nhập hải phùng

Lộ đào thanh phạm triệt

Thần các hoá thành trùng

Tâm đáo Tràng An mạch

Giao Châu hậu dạ chung

Dịch là:

Quê nhà ngoài Nam Việt

Muôn d8ạm núi trắng mây

Kinh luân rời Trung Quốc

Hương hoa nhập biển khơi

Sóng biếc còn in dấu

Lầu trai lại hoá thành

Trường An mạch sầu nặng

Giao Châu chuông đêm thâu

Đời Võ Hậu nhà Đường (năm 685), thi sĩ Trầm Thuyên Kỳ đã từng lặn lội đến đất Thanh Hoá (Cửa Châu) để yết kiến Vô Ngại Thượng Nhân ở chùa Sơn Tĩnh, tự nhận mình là đệ tử của Ngài. Lúc về nước, thi sĩ để lại bài thơ tỏ lòng hâm mộ, kính phục sư phụ. Bốn câu mở đầu như sau:

Đại sĩ sinh Thiên Trúc

Phân thân hoá Nhật Nam

Nhân trung xuất phiền não

Sơn hạ tức Già Lam.

Dịch là:

Phật xưa sinh ở tây Thiên

Mà nay xuất hiện tại miền Nhận Nam

Thoát vòng phiền não cõi phàm

Thảnh thơi dưới núi Già Lam một toà.

Như vậy, Thiền Tông không phải là sản phẩm riêng đặc sắc của Phật giáo Trung Hoa, mà nó chịu ảnh hưởng khá mạnh của Phật Giáo Đại Việt. Nhưng dân tộc Trung Hoa vốn có truyền thống tư tưởng nên sau khi  Thiền tông xuất hiện, nó nhanh chóng phát triển lên một trình độ mới về triết học: “Chân Không”, cô đúc trong “Pháp  bảo dàn kinh” của đại sư Huệ Năng miền Giang Nam, Trung Quốc.

Căn cứ tài liệu lịch sử chép lại cuộc vấn đáp giữa Hoàng Thái Hậu Phù Thánh triều Lý Nhân Tông với quốc sư Thông Biện ngày rằm tháng Hai âm lịch năm 1096 thì Thiền Tông ở Việt Nam đạt đến độ phát triển khá thịnh vào khoảng cuối thế kỷ VI. Thời ấy Tỳ Ni Đà Lưu Chi người Ấn Độ vào trụ trì, giảng dạy Phật pháp ở chùa Pháp Vân (569-582), kế đến là sư Pháp Hiền. Sách “Đại Nam thiền tuyển tập lục” viết: “Sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi tịch,  Pháp  hiền vào Từ Sơn tập định. Thân hình như cây khô, vật ngã đều quên, giống chim bay đến thân mật, loài thú rừng quấn quít… Người bấy giờ mộ tiến đến học đông không kể xiết. Ngài bèn dựng chùa dạy học, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người. Thiền tông phương Nam bất giờ thịnh nhất”. Từ sư Pháp Hiền đến Trần Nhân Tông là cả quãng dài 700 năm phát triển Thiền Tông, cũng là 700 năm sôi động của lịch sử Việt Nam với các cuộc nổi dậy đấu tranh chống ách đô hộ của người Tàu. Hoàn cảnh ấy khiến các thiền sư Việt Nam ít dùng con đường xuất thế mà sớm chọn con đường nhập thế như Lý Phật Tử được dân trong động Dã Năng miền Tây Bắc Việt suy tôn lên lãnh đạo khởi nghĩa đánh đuổi quân nhà Lương, giành độc lập hơn 30 năm (571-602). Có thể xem đây là tấm gương đầu tiên về sự nhập thế, đem đạo vào đời phụng sự dân tộc của Phật giáo Thiền tông Việt Nam. Một khi xu hướng nhập thế đã thành phổ đời “ôKhoáư Lục” của Trần Thái Tông, tiếp đó là những triết thuyết của Trần Nhân Tông là một tất yếu lịch sử. Nét độc đáo là ở chỗ Trần Nhân Tông với tầm thông tuệ, khoáng đạt của một ông vua đã đưa vào triết thuyết của Thiền phái Trúc Lâm những tinh hoa của tư tưởng Nho, Phật, Lão. Tam giáo đồng nguyên là để thực hiện cái nhất tâm minh ngộ, hư vô, “không che không chứa”, ngõ hầu cảm thông thiên hạ. Chỉ có tâm hư vô thuần nhất. Linh khiết vượt cả Dụng lẫn Tướng, nhập vào Thể tính mới bao hàm cả Hữu lẫn Vô trong cái ý thức tổng hợp toàn diện.

II. Sức mạnh tinh thần và vật chất của triết Trần Nhân Tông

Vua Trần Nhân Tông sinh năm Mậu Ngọ (1258) tức 1 năm sau trận thắng quân Nguyên lần thứ nhất. Ngài  ở ngôi báu 14 năm (1279 – 1293) và lãnh đạo nhân dân ta 2 lần đánh thắng quân Nguyên vào năm Ất Dậu (1285) và năm Mậu Tý (1288). Cuối năm Quý Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng được nửa năm, đến năm Giáp Ngọ (1294)thì xuống tóc đi tu trên núi Yên Tử, khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm. Ngài toạ thiền, tập định và viết sách ở Yên Tử vẻn vẹn 12 năm lại đã khai mở tâm linh, làm nên sức mạnh cho dân tộc Việt từ lúc Ngài còn ở ngôi báu, lãnh đạo dân ta đánh thắng giặc Nguyên, thể hiện chói sáng tinh thần nhập thế, giáo dân, thân dân, chăn dân, cùng hoà lẫn trong dân, tu nhân hành đạo. Đây chính là điểm cốt lõi trong triết thuyết Phật tức Tâm của Trần Nhân Tông. Trước năm Giáp Thân (1284) là quãng thời gian hoà bình kiến quốc, Ngài hành đạo với phương châm Tam giáo đồng nguyên để đem lại quốc thái dân an, nước nhà cường thịnh. Lúc này, cái tinh hoa của Nho giáo vè6 Tu – Tề – Bình – Trị đã tôi đúc cho tâm của Ngài đạt đến độ chí nhân, chí thánh. Cái vi huyền trong Lão giáo, vi diệu trong Phật giáo về con người tâm lý, lấy giải thoát làm lý tưởng tối cao giác ngộ đã khiến Ngài và các đại thần, vương công quý tộc có đời sống tâm linh khoáng đạt, ôn hoà nên triều đình là một khối đoàn kết thống nhất. Trên bình diện xã hội, dân chúng theo triết thuyết của Ngài lấy Nhân – Nghĩa – Trí – Lễ – Tín điều hoà các mối quan hệ; lấy hạnh tinh tấn để giác ngộ tâm linh; lấy phép ứng xử Lục hoà làm phương châm hành động. Vậy nên nửa cuối thế kỷ XIII, dưới ảnh hưởng của triết thuyết Trần Nhân Tông, xã hội Việt Nam thanh bình an lạc, kinh tế phát triển là cơ hội tích luỹ nhân tài, vật lục, chuẩn bị chống giặc.

Khi nước nhà lâm sự (1284-1288), vua Trần Nhân Tông đã khai thác tối đa giáo lý về hạnh vô ngã để động viên cả nước thi hành kế sách vườn không nhà trống, lúa gạo và tài sản của dân sẵn sàng đốt đi cho giặc không có cái ăn cái mặc, bởi dân ta đã vô ngã rồi, nào có thiết gì những của cải để sẵn sàng phụng sự cho nền độc lập. Hạnh tự giác – giác tha mà Ngài răn dạy đã giúp cho các tướng lĩnh sau hội nghị Diêm Hồng về lại bảo làng giác ngộ con cháu xả thân giữ nước. Có lẽ đây chính là cội nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất làm nên hai lần chiến thắng giặc Nguyên hung bạo dưới triều Trần Nhân Tông.

Những bài học thực tế vừa nêu đã thôi thúc vua Trần Nhân Tông sau chiến thắng Mậu Tý (1288), đến năm Quý Tỵ (1293) bàn giao ngôi báu cho Trần Anh Tông, rồi sau đó (1294) lên núi Yên Tử tu hành, viết sách để hệ thống hoá triết thuyết của mình, khai sáng Thiền phái Trúc Lâm. 700 năm đã qua đi, nhưng dãy núi Yên Tử mãi mãi là đất địa linh bởi trong đó có hồn thiêng của Trúc Lâm tam tổ và triết thuyết Trần Nhân Tông bao trùm toả sáng lên từng mô đất, ngọn cổ, cành cây, khe suối. Các thế hệ Việt Nam hành hương lên Yên Tử không chỉ để chiêm ngưỡng cảnh đẹp núi sông, mà còn để hồn mình khai mở theo triết thuyết Trần Nhân Tông, tim thấy sự an bình, siêu thoát trong giáo lý đạo hạnh của Trúc Lâm tam tổ.

III. Làm gì để bảo tồn Yên Tử và Thiền phái Trúc Lâm?

Ngày nay, nhân loại khắp hoàn cầu  d0ều chưa thoả mãn với đời sống vật chất, do nền văn minh tin học và kinh tế thị trường mang lại. Họ mải mê đi về phương Đông tìm kiếm những giá trị tinh thần của nền “văn hoá ký ức”. Yêu Tử và Thiền phái Trúc Lâm bao chứa cả hai mặt văn hoá vật thể và phi vật thể. Tôi nghĩ rằng cái mặt văn hoá vật thể là những di tích lịch sử quanh dãy Yên Tử và ở rải rác khắp các tỉnh thành phải được trùng tu cho xứng với tầm của nó. Sự hoang phế của một số di tích theo thời gian và sự biến dạng của nó do con người vô ý thức gây ra sự cần được kịp thời sửa nắn. Mong rằng với sự đầu tư của Nhà nước, công đức của dân và sự tài trợ của nước ngoài, mỗi di tích khi trùng tu tôn tạo sẽ được dày công nghiên cứu, quy hoạch tổng thể từ đầu. Nguồn kinh phí phải được dùng đúng mục đích theo tâm thiền của chính người xây dựng.

Mặt văn hoá phi vật thể là những tinh hoa của triết thuyết Trần Nhân Tông thể hiện trong giáo lý của Thiền Phái Trúc Lâm. Nó cần được đề cao với tất cả lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm của mỗi chúng ta với các thế hệ mai sau. Các nhà nghiên cứu, nhà văn, các vị cao tăng theo nghề nghiệp cứu, quy hoạch tổng thể từ đầu. Nguồn kinh phí phải được dùng đúng mục đích theo tâm thiền của chính người xây dựng.

Mặt văn hoa phi vật thể là những tinh hoa của triết thuyết Trần Nhân Tông thể hiện trong giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm. Nó cần được đề cao với tất cả lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm của mỗi chúng ta với các thế hệ mai sau. Các nhà nghiên cứu, nhà văn, các vị cao tăng theo nghề nghiệp và bổn phận của mình mà phát tâm đóng góp vào sự nghiệp cao cả này. Ở góc độ người viết văn, tôi nghĩ nền văn học nước nhà cần có thêm những tác phẩm tương xứng với tầm vóc vĩ đại của các vua và đại thần triều Trần. Muốn vậy, nhà văn cần trau dồi kiến thức về Tam giáo để hiểu sâu và nhập hồn vào Thiền phái Trúc Lâm. Về phần mình, bằng tất cả tâm huyết, tôi đã viết cuốn tiểu thuyết “Khói mây Yên Tử” (NXB Văn hoá Dân tộc – 2001) và một số truyện ngắn như “Đạo sĩ và rắn độc” (tập “12 con giáp”, NXB Hà Nội – 1999) … Tuy nhiên, tôi tự thấy mình làm được còn quá ít, còn phải phát tâm hơn nữa để tiếp tục sáng tạo. Trên con đường sáng tạo ấy, bản thân phải vô ngã, tinh tấn rồi tự giác – giác tha theo Trúc Lâm tam tổ.

Xin cảm ơn quý vị và Ban tổ chức đã mời tôi tham dự hội thảo và gợi ý cho tôi viết bản tham luận này.

Hà Nội, tháng 5 năm 2001 (Tân tỵ)

VNT