|
HỘI THẢO KHOA HỌC TRẦN NHÂN TÔNG VÀ DI SẢN VĂN HOÁ YÊN TỬ |
|
THƠ THIỀN |
|
CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ TRẦN TRUNG |
|
VŨ QUẦN PHƯƠNG |
|
|
|
Trần
Tung là con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo, anh vợ của
Trần Thánh Tông, bác Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông chịu
nhiều ảnh hưởng Thiền học của ông bác này cho nên tư tưởng
Thiền của phái Trúc Lâm ít nhiều có chịu ảnh hưởng
trực tiếp của Trần Tung. Trần Tung tham gia kháng chiến
chống Nguyên Mông lần hai (1285) và lần ba (1287-1288) lập
nhiều công tích nhưng sử sách ít nói tới như các nhân
vật tướng lĩnh tôn thất khác của nhà Trần. Chỉ biết
sau kháng chiến ông có nhận chức Tiết độ sứ, cai quản
vùng Thái Bình một thời gian ngắn rồi lui về tu Phật. Tác
phẩm của ông, ngoài phần ngữ lục (trong bộ Thượng sĩ
ngữ lục) còn 49 bài thơ. Thơ ông hướng tới mọi đề tài
nhưng đều xoay quanh chủ đề về kiếp người, về lẽ
sống chết, được mất. Cũng có thể coi đây là những bài
kệ mang chức năng truyền bá giáo lý nhà Phật bởi tất
cả đều được luận bàn dưới ánh sáng triết học của
Thiền học. Trong
bài Vạn sự quy như Trần Tung
thể hiện nhân sinh quan nhà
Phật: coi Có với không là đồng nhất. Phiền não
với Bồ đề là một. Chân như bay vọng niệm rồi cũng hư
không. Thân như gương ảo, nghiệp như bóng. Ông khuyên đừng
bận tâm đến sống chết, đừng để ý đến Vua hay Phật.
Hãy tuân theo quy luật, thậm chí phó mặc cho quy luật. Ông
nói người có trí tuệ cao thì không cầu đến thuốc trường
sinh để làm gì Trần Tung coi: Sống chết chỉ là hai mặt
của hiện tượng: Sống
và chết vốn từ một đợt sóng Trăng
rọi đêm qua vẫn là trăng đêm nay. Phần
độc đáo trong những triết lý của Trần Tung là tư duy
Thiền nhưng lại gắn Đời. Có thể coi đấy là những nguyên
lý của một nghệ
thuật sống, là triết học của đời thường. Là giáo lý
nhưng không giáo điều mà có tính khả thi. Bản lĩnh Trần
Tung, hay rộng hơn, bản sắc thực tiễn của văn hoá Việt
là ở đó. Trần Tung không tìm giải thoát nơi Phật, ông tìm
giải thoát ở chính mình. Tìm ở chính mình như thế nào? Ngồi
ngay ngắn giữa nhà, im lặng, không nói Thảnh
thơi nhìn ngọn khói trên núi Côn Luân Khi
nào mỏi mệt thì tâm tự tắt Chẳng
cần niệm Phật, chẳng cần Thiền (bài
Ngẫn táo) Trong
bài Phật tâm ca, ông còn chỉ, cụ thể và táo bạo, đường
tới cõi Phật: Đi
cũng Thiền Ngồi
cũng Thiền (…)
Tỉnh táo lên Tỉnh
táo lên Bàn
chân dẫm trên mặt đất chớ có ngả nghiêng Ai
người tin được đến đấy. Sẽ
cất cao bước đi trên đầu Phật lên tới đỉnh Không
chỉ chống giáo điều, Trần Tung còn quyết liệt chống hình
thức. Đi cũng Tiền, ngồi cũng Thiền, chân dẫm lên mặt
đất vững chãi của hiện thực để đi đến Phật, bỏ
qua mọi hình thức tu hành. Tu từ lòng mình chứ không phải
từ một kiểu cách sinh hoạt do một tổ chức tu hành nào
đó quy định. Trong lịch sử tôn giáo chúng ta đã thấy có
những thời kỳ chính hình thức tổ chức quan liêu của giáo
hội đã chống lại lý tưởng nhân ái của giáo lý. Bỏ tâm
mà lại đi tìm Phật, học đủ thứ kinh kệ mà thiếu chân
tâm đã giác ngộ thì Một chấm sáng mùa xuân làm bừng
cả muôn hoa (bài Thị học) Ông
tin vào trực giác minh mẫn của lương tri, vào tri thức
hồn nhiên của con người. Ông khuyên: Nếu
muốn vượt lên cao, sang bờ bên kia Hãy
hỏi đức trẻ thơ ở ngay trước mặt (Bài
Thị Chúng) Ông
cho rằng điều đáng làm với mỗi người là biết được
Cái Tâm của nó thì làm cách nào? Thượng sĩ thích chí
trả lời: A ha! Giữa trưa cứ ngủ thẳng tới canh ba. Nghĩa
là cứ hồn nhiên, vô vi sẽ tìm thấy bản ngã. Chỗ này
Trần Tung gần với Lão Đam: Không thị, không phi lòng ung
dung tự tại (bài Tự Tại), Thị phi là chuyện không đáng
bàn, bàn là sa vào tiêu chí nhất thời một nơi một lúc,
phải biết ngoài trời còn có trời, vậy sao lại lấy cái
nhất thời mà bình giá cái vĩnh viễn. Chiếc thoa vàng đối
với bà già đầu hói chỉ là chiếc móc để treo. Tấm gương
sáng đối với người mù chỉ là chiếc nắp đậy chén. Tích
luỹ hiểu biết mà thiếu chân tâm để ngộ thì cái tri
thức bề nổi ấy chỉ là chiếc thoa vàng đối với bà già
đầu hói, là tấm gương sáng trong tay một ông mù. Chả ích
gì. Chân tâm chính là năng lực cảm thông với tạo vật,
ai cũng thấy được vẻ tồn tại bề ngoài của nó, nhưng
người có chân tâm thì nhận ra chân lý ẩn giấu. Cái bề
ngoài ấy người ta có thể cảm nhật khác nhau, người nói
thị người nói phi. Trần Tung không bận tâm đến cái thị
phi ấy. Mặc áo hay cởi trần đâu có quan trọng: Đến
xứ cởi trần cứ vui vẻ mà bỏ áo Quan
trọng là nhận ra quy luật bên trong chi phối hiện tượng.
Cho nên một mặt coi sống chết, được mất là như nhau nhưng
mặt khác lại rất cần phân biệt phượng hoàng với chim
sẻ, cá kình với ếch nhái: Đặng
lưới bẫy phượng hoàng thì đừng mưu tính với chim sẻ (nguyên
văn yến tước) Đặt
cần câu cá kình thì đừng làm mất lòng bọn ếch nhái. Coi
là như nhau vì khái niệm đó chỉ là hai mặt của một
cặp phàm trù, còn
cần phân biệt vì những loài này là các phạm trù không đồng
cấp. Nhận thức ấy là cần thiết để có hành động đúng.
Hai câu kệ này cho thấy tính thiết thực giúp đời và
rất sâu sắc của bậc cao tăng sống cách chúng ta bảy
thế kỷ. Lời khuyên ấy đến nay vẫn nguyên giá trị,
vẫn đủ sức làm giật mình các nhà hành động. Vui vẻ
bỏ áo khi vào xứ cởi trần không phải là nhượng bộ vô
nguyên tắc, cũng không phải là triết lý tuỳ thời mà là
phép hành xử của sự giác ngộ biết cái khác áo quần là
nhỏ, không hiếu thắng hơn thua là ở chỗ đó. Trăng
xưa soi không kể gì xa gần Gió
thổi không chọn nơi cao thấp. Vậy
việc gì ta lại căn cứ vào cao thấp xa gần, mặc áo hay
cởi trần, mèo đen hay mèo trắng để hành xử. Đã biết cái
khác nhau đó chỉ là bề ngoài tạm thời thì cứ hoà đồng
cho tĩnh tâm. Thanh tĩnh sẽ tạo trí tuệ sáng suốt. Trí
tuệ đạt tới bao quát thì tâm gặp Phật. Thượng sĩ dạy: Bỏ
tâm mà tìm Phật Như
tìm bóng mà quên gương Không
biết bóng là từ gương mà ra. Người
có chân tâm thì dầu làm đồ tể, sát sinh muôn ngàn con
vật, khi giác ngộ, buông dao là thành bồ tát. Mở rộng
triết lý này ta sẽ gặp lòng tin vào sự hướng thiện, vào
năng lực tu dưỡng, tự hoàn thiện của con người. Đây là
quan điểm nhân ái và khoa học của Tuệ Trung Thượng sĩ
Trần Tung, một quan điểm chống mọi thành kiến về con người,
đánh giá con người từ chính bản chất của họ: tâm và
trí. Trí tuệ được giác ngộ nhờ chân tâm. Chúng ta,
Phật tử hay không Phật tử, đều có quyền tự hào về
tầm vóc trí tuệ đó của cha ông, tự hào về một giai đoạn
lịch sử dân tộc đã tạo tiền đề cho trí tuệ đó nảy
sinh và phát huy được trong xã hội. Hà Nội 16-3-2001
|